Wednesday, August 27, 2014

Về cái chết của trung tướng Nguyễn Bình



Về cái chết của trung tướng Nguyễn Bình và vai trò trách nhiệm của tướng Võ Nguyên Giáp

Cộng sản nó giết mình hôm nay
Ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu

(Lời tâm sự của TT. Trí Quang với một đệ tử thân tín, sau 1975)

Trong những năm gần đây, để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của tướng Nguyễn Bình, đã có ít nhất hai cuốn sách viết về cuộc đời của ông để tìm hiểu một số Sự thật và Huyền Thoại liên quan đến ông. Đó là các cuốn: Trung tướng Nguyễn Bình, huyền thoại và sự thật của Nguyên Hùng. Cuốn thứ hai ít được dư luận chú ý tới với nhan đề khá nổ: Tôi giết Nguyễn Bình của Trần Kim Trúc.( một chức sắc Cao Đài).

Tôi đã đọc những tài liệu trên và đều xếp vào loại không dễ sử dụng được. Bài viết sau đây chủ yếu lấy từ nguồn tình báo của Pháp qua một vài tác giả cho thấy cách nhìn, cách đánh giá tướng Bình khác hẳn các tác giả trong nước.


Chưa kể rất nhiều bài báo đủ loại liên quan đến tướng Bình. Người ta dựng nên cả một bộ phim về ông. Ngưỡi ta tổ chức một phái đoàn sang tận Campuchia đi tìm hài cốt của ông và mang về Sài gòn chôn cất. Người ta dựng tên đường cho ông trên đường phố Sài Gòn. Sau hơn 50 năm chết chôn vùi vô danh, ẩn tích trong rừng, ông được đội mồ sống lại. Sự nghiệp của ông được phục hồi.

Thật là một điều kỳ lạ chết được sống lại.

Sự im lặng trong suốt hơn 50 năm mang một ý ngĩa và sự dựng ông lên sau 50 năm mang một ý nghĩa khác..

Nay thì ông được đứng chung trong hàng ngũ những người bị đảng trù dập, bị đầy ải và bị khai trừ, được phủ những vòng hoa phúng điếu. Đó là những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Thị Ba- người đàn bà làm giao liên, trạm thông tin giữa Ẩn và Việt Minh.. và cả Phạm Xuân Ẩn.

Bà Nguyễn Thị Ba cho mãi đến năm 2006 mới được phong là người anh hùng!!

Tôi trích lời TT Trí Quang tâm sự với một người đệ tử rất thân cận của ông mà không tiện nói tên- và người này đã tiết lộ cho tôi biết điều ấy- mà tôi nghĩ rằng TT. Trí Quang hẳn là một trong những người hiểu sâu sắc bản chất đểu cáng của cộng sản hơn ai hết mà rất có thể ông là một trong những nạn nhân ấy!!

Ông đã từng lớn tiếng trước 1975 và ông đành im lặng 38 năm nay và chắc là cho đến lúc từ giã cõi đời- Chắc là không bao giờ ông có cơ hội lên tiếng nữa-. Gớm thay chế độ ấy đã có thể bịt mồm bịt miệng một người từng làm rung chuyển nước Mỹ. Điều gì đã khiến ông phải im lặng như thế!!

Trong số những người tôi vừa nêu tên trên, tôi xin đặc biệt nhắc đến trường hợp tranh sáng tranh tối của ông Phạm Xuân Ẩn như một điển hình- vừa là nạn nhân vừa là anh hùng của người cộng sản- một người hoạt động cho cộng sản chỉ vì lòng yêu nước, nhưng có lòng nhân bản.

Giống như nhiều người khác trước khi chết, ông Ẩn đã cẩn thận dặn vợ cho chôn theo ông một cái hộp chứa đựng tất cả thư từ, hình ảnh, tài liệu mang theo như một bí mật đời ông!!

Ông cho chôn theo ông những hình ành, tài liệu là quyền của ông. Nhưng điều đó cho thấy một phần ông không muốn tiết lộ cuộc đời của ông, hoạt động của ông có thể ảnh hưởng tới bạn bè ông- một điều mà ông trân trọng nhất trên đời-.

Người ta được biết ông Ẩn là bạn thân của rất nhiều người lãnh đạo miền Nam như Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh, Bùi Diễm, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Giao, Nguyễn Công Khanh và nhiều sĩ quan báo chí trẻ và nhất là bác sĩ Trần Kim Tuyến. (Ông Ẩn đã đưa được Trần Kim Tuyến dời Việt Nam vào phút chót).

Ông cũng là bạn thân của các nhà báo ngoại quốc như Robert Shaplen, Stanley Karnow, Frances FitzGerald, Robert Sam Anson, David Halberstam, Henry Kamm, Neil Sheehan và ông chủ của ông là Frank McCulloch.

Chưa kể những trùm mật vụ như Edward Lansdale, William Colby, Lou Conein…

Larry Berman, Perfect Spy, Pham Xuan An, trang 2 và 3



Nhưng bạn thân phía bên cộng sản của ông là ai? Có được mấy người? Tin tưởng được mấy người trước khi chết? Đây là một câu hỏi và nhận xét lý thú đánh giámột cách đích thực con người và tâm tư của Phạm Xuân Ẩn.

Nếu cộng sản vinh danh ông là người anh hùng. Kệ họ. Phần những người quen biết ông mà có người tôi đã gặp chỉ coi Phạm Xuân Ẩn là một người bạn tốt.

Chỉ biết là lúc nào ông cũng bị cộng sản nghi ngờ, theo dõi, kiểm soát. Họ tra vấn tìm hiểu giai đoạn ông du học bên Mỹ và muốn biết xem ông làm những gì, giao thiệp với ai? Họ nghi ngờ ông còn là người của Mỹ? Vì thế họ không cho ông xuất ngoại sang Mỹ, nhà bị canh chừng, theo dõi.

Làm sao không nghi ngờ được khi một trùm tình báo cộng sản tìm hết cách để đưa một tên cựu trùm tình báo ngụy trốn chạy cộng sản thì lý tưởng, ý thức hệ nào có thể chen vào giữa họ được! Cũng thế, khi Phạm Xuân Ẩn khuyên một thằng bạn trẻ- trung úy TQLC- cậu liệu tìm cách mà đi, ở đây không ở được đâu khi chúng nó vào thì lời khuyên ấy có thể xuất phát từ một người cộng sản xác tín không? Xưng hô cậu với chúng nó thì còn gì để nói nữa!! Cộng sản cũng thừa biết, nhưng đã đến lúc cần nặn ra những anh hùng như PXA, PNT thì vẫn phải làm.

Cuộc chiến tranh này có những điều không dễ hiểu và không hiểu được!!

Trong một buổi tiêp tân, có ông đại tá người Việt hỏi ông: Ông có phải là tướng Ẩn Không ? Ông gật đầu nhận. Một khách Mỹ cao cấp đứng cạnh đó hỏi đùa, nhưng ông là tướng ở bên nào mới được?

Ông Ẩn trả lời:

- Without hesitation, Ẩn answered, ‘Both sides’! The colonel looked uneasy. Just kidding, said An. In telling me this story, An concluded, You see, that is why they can’t let me out; they are still unsure who I am.

Khi ông yếu mệt vì bệnh phổi, họ thăng cho ông lên hàng tướng.

Nội cái việc thăng tướng cho ông là một điều khôi hài chỉ cộng sản mới làm được. Ông ấy có cần cái chức tướng đó đâu. Tôi tin chắc ông PXA hiểu cái trò chơi kệch cỡm ấy, cái vinh danh hão ấy.

Ông ráng đóng nốt cái vở kịch dàn dựng mà cộng sản muốn ông đóng cho trọn vẹn. Tôi nhìn ông trong quân phục tướng rất không giống PXA, ngực đầy huy chương mà tội nghiệp cho ông trong đó có bức ảnh tướng Giáp đón tiếp ông, cạnh đó có đại tá Bùi Tín. Lúc ông chết, đám ma được cử hành với nghí lễ dành cho cấp tướng ở nhà quàn bộ Quốc Phòng.

Chiêc xe hơi Renault của ông, số 51 A.29-80 nay được trưng bày tại Bảo Tàng Viện ở Hà Nội.

Chiếc Renault 4CV của ông Phạm Xuân Ẩn được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Quân Đội, Hà Nội

Nhưng điều quan trọng hơn hết có lẽ là vài điều ông trối trăng lại cho Larry Berman- người viết tiểu sử ông như sau:

-Nay thì họ hiểu rằng, tôi đã không làm điều gì sai lầm và tôi thì nay đã sắp chết. Tôi đã không phản bội họ. Họ đã cố gắng thuyết phục tôi thay đổi cách nói của tôi trong vòng một năm và thuyết phục thay đổi cách suy nghĩ của tôi lâu hơn nữa. Họ đã làm được gì. Họ đã không thể loại trừ hay bắn tôi. Họ nói cho tôi biết họ không thích lối nói chuyện của tôi bởi vì tôi khác người. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn không biết là có bao nhiêu tin tức tôi biết được và tôi biết như thế nào.

Larry Berman, Ibid, trang 9
Henry Kissinger, À la maison Blanche, trang 715, 1968-1973

Ông Phạm Xuân Ẩn tiếp nhà báo Mỹ Stanley Cloud tại nhà riêng sau 1975. Chiếc xe Renault ông dùng thời còn làm báo đậu ngoài sân nhà


Câu nói để đời của TT Trí Quang áp dụng như bài học cho nhiều người- cho Phạm Xuân Ẩn và cho cả tướng Nguyễn Bình trong bài viết này.

Tướng Nguyễn Bình ở chiến trường miền Nam

Tướng Bình được đích thân tướng Giáp và Hồ Chí Minh chỉ định đưa vào Nam Bộ công tác. Thời gian là tháng 10-1945 trước khi cuộc chiến bùng nổ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào năm 2003 đã xác nhận:

Chính tôi theo chỉ thị của Bác đã trực tiếp nói chuyện với tướng Bình ( lúc này là Khu trưởng duyên hải Bắc bộ, nay là khu ba) và chuyển lệnh vào miền Nam công tác. Đồng chí đã phấn khởi nhận nhiệm vụ và lên đường vào miền Nam và đã cống hiến quan trọng trong nhiệm vụ mới.

Sài gòn Giải phóng, 19/3/2013



Có hai tướng khá nổi tiếng thời đó thì một là Nguyễn Sơn được gửi vào khu bốn, tướng Bình vào Nam Bộ và cả hai số phận họ sau nảy đều gặp nỗi bất hạnh. Nỗi bất hạnh ấy do cái logique dialectique của cộng sản. Đối với người cộng sản, dùng được thì dùng không dùng được thì loại trừ. Cái logique ấy chúng ta đều thấy xảy ra biết bao nhiêu cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng Việt Nam, đảng bộ Trung Hoa và đảng bộ Liên Xô. Thanh trừng là sức mạnh của tổ chức đảng.

Nguyễn Bình vào Nam muốn làm trời, một mình một cõi. Nguyễn Sơn vào khu 4 muốn biến Quảng Ngãi thành một Diên An bên Tàu thì trước sau cũng phải đi chỗ khác chơi.

Một viên tướng như Nguyễn Sơn mà phải nhục nhã xin trở về Tàu thì phải hiểu đó là một cách loại trừ nhẹ nhất rồi!

 Tướng Nguyễn Sơn (1908 - 1956)

Tướng Nguyễn Bình là một viên tướng có cá tính và phong cách dễ nổi bật trong thời chiến tranh với: Rượu, gái và ca hát. Với ba cái đó nơi một ông tướng biên cương mà đàn em một số là thành phần trôi sông lạc chợ vì thế ông có thể được lòng các đàn em. Tướng Bình dùng đàn em, thu phục họ theo nghĩa phe đảng. Trong máu ông không có tính đảng. Trong khi tướng Giáp thấy chữ phe là thừa.

Chưa kể cả ba cái món hợp khẩu vị tướng Bình ở trên xem ra đối nghịch với con người của tướng Giáp vốn khắt khe, nghiêm chỉnh và kỷ luật.

Sự khai trừ có thể bắt đầu từ ban đầu, từ những chuyện nhỏ nhoi ấy.

Nhưng Hồ Chí Minh đủ khôn ngoan và khéo léo hơn tướng Giáp. Ông tuyển chọn một nữ điều dưỡng- xinh đẹp đã đành là bắt buộc- lại lanh lợi và khôn ngoan- để cài vào chăm sóc Nguyễn Bình Người nữ này còn được đào luyện vững chắc chủ thuyết cộng sản để thuyết phục và uốn nắn Bình theo cộng sản. Cái kế mỹ nhân của ông Hồ xem ra thành công. Và để thưởng cho cái công trình uốn nắn ấy, ông Hồ phong cho Bình lên trung tướug năm 1948.

Sài Gòn lúc Nguyễn Bình vào miền Nam thì dân chúng cũng khá đông-vào khoảng 2 triệu dân- với một thành phần dân chúng khá phức tạp. Có ngưới Pháp, người Tàu, Người Nhật. Lại thêm Việt Minh và các thành phần đảng phái, giáo phái tranh chấp nhau.

Sau đây là tình hình Sài gòn trước khi Nguyễn Bình vào nhận nhiệm vụ. Trước tiên, Việt Minh cướp chính quyền trong tay Mặt Trận Quốc Gia Thông Nhất. Vì còn yếu thế nên họ tung rải truyền đơn như sau:

- Việt Minh từng sát cánh bên đồng minh, đánh tây, chống Nhựt.
- Đối với Nga là bạn.
- Đối với Tàu như răng với môi.
- Đối với Mỹ chủ trương thương mại, nên không có mộng xâm lăng
- Đối với Anh, nội các Attlee mới lên nắm chánh quyền và khuynh tả ..

Hồi ký Nguyễn Kỳ Nam, trang 51



Trong truyền đơn này, ta đã thấy để lộ ra cái đuôi cộng sản : Nga là bạn, Tàu như răng với môi..

Xin nhớ đây là thời điểm 1945 nhé, khi chưa có quan hệ chính thức với cả Nga và Tàu.

Khi dùng chữ: Chúng ta ở trên đây là có ý ám chỉ cộng sản đệ tam mà thôi. Họ rải truyền đơn và sửa soạn cướp chính quyền ở miền Bắc cũng như trong Nam.

Thật vậy, ngủ một đêm sáng ngày đồng bào Thủ đô thức dậy lấy làm ngạc nhiên trông thấy khắp nẻo đường treo đầy biểu ngữ: Chánh quyền về Việt Minh.

Hỏi Việt Minh là ai, nhiều người không biết. Ai là chính quyền?

Ở Nam Bộ, họ kêu gọi Thanh Niên Tiền Phong gia nhập Mặt trận Việt Minh ..

Trong giai đoạn này, trước khi tướng Bình vào Nam Bộ thì Trần Văn Giàu là cán bộ cộng sản chủ chốt và cao cấp nhất. (Thủ lãnh nhóm đệ tứ cũng không còn nữa sau khi Tạ Thu Thâu bị giết ở Quảng Ngãi).

Trần Văn Giàu tự mình đứng ra tự nhận là người đứng đầu Lâm Ủy Hành Chánh, giải tán Mặt trận Quốc Gia.

Trần Văn Giàu (1911 - 2010)

Ngày 23 tháng chín, một truyền đơn của cộng sản được tung ra:

Ai còn ở lại Sài gòn là Việt gian, sẽ bị bắt và bị trừng trị.

Sau truyền đơn này, dân chúng phải rời bỏ Sài Gòn. Trên đường về miền Tây, miền Đông, dân chúng kéo đi tản cư chặt cả đường phố.

Sài gòn! Một thành phố chết.

Tiếng súng nổ từng chặp, khắp đó đây.

Nguyễn Kỳ Nam, Ibid, trang 80

Chợ Bến Thành, Sài Gòn, ngày 23-9-1945

Sau khi có tiếng súng Nam Bộ kháng chiến rồi lúc đó mới xuất hiện tướng Nguyễn Bình.

Thoạt đầu, Nguyễn Bình vào Nam ở miệt Thủ Đầu Một ẩn mình xem xét tình hình, sau đó ông lộ diện, ủng hộ Mặt trận Quốc Gia Liên Hiệp, đảm trách ủy viên quân sự kiêm khu trưởng khu 7.. Nguyễn Bình đã chính thức gửi một lá thư tán thành và ủng hộ Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp trong một số báo bí mật thời đó mà nội dung nay chúng ta ghi lại được như sau:

-Trong lúc nhìn thấy rõ thủ đoạn của thực dân Pháp, lợi dụng sự chia rẽ, bắt tay với bè phái này phái nọ, miễn sao cho họ quên kháng chiến mà chỉ nghĩ đến sự thù hắn không muốn cho thực dân Pháp lợi dụng nên tôi- Nguyễn Bình- đề nghị lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp. (Thật ra MTQGLH đã có sẵn trước khi Nguyễn Bình tuyên bố)Xin xem chú thích.

Tại chiến khu Bà Quẹo, một đại hội đã nhóm họp ngày 20 tháng 4 năm 1946 tại bản doanh tướng Huỳnh Văn Trí (Cao Đài), có đại diện các đảng phái chính trị, tôn giáo, các cơ quan quân sự, các tấng lớp dân chúng tuyên bố thành lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp V.N để tiếp tục cuộc lãnh đạo kháng chiến. Trích Nguyễn Kỳ Nam, Ibid, trang 82

Danh sách các vị trong Mặt Trận Liên Hiệp gồm nhiều thành phần đảng phái, tôn giáo: Huỳnh Phú Sổ, ( Hòa Hảo), Trần Văn Lắm(VNQDĐ), Lê Văn Tý( Cao Đài), Lâm Văn Hậu, Mai Thọ Trấn, Phạm Đình Công( thay mặt Nguyễn Bình), Tướng Huỳnh Văn Trí ( tức Mười Trí Bình Xuyên), Phạm Huy Đức, Nguyễn Văn Sâm Nguyễn Bảo Toàn ( Quốc dân đảng), Nguyễn Văn Nhân, Linh mục Nguyễn Bá Sảng

Nhưng không hiểu vì lý do gì sau này, chính tướng Nguyễn Bình lại muốn thủ tiêu Mặt Trận - một thủ đoạn mà nhiều người quốc gia cho là đã bị Việt Minh lừa.

Trong một lá thư trao đổi nội bộ đề ngày 26 tháng 8, 1946, thơ số 210 Q.S, Nguyễn Bình viết:

Sau khi Mặt trận Quốc Gia Liên Hiệp ra đời, Ngài cũng có tham gia nữa, Thưa Ngài, tại sao có những thông cáo thủ tiêu MTQGLH ?… Tôi rất khổ tâm, nếu đặt địa vị Ngài vào trách nhiệm của tôi, tôi dám chắc Ngài cũng không thể làm ngoài việc mà tôi đã làm..

Nguyễn Kỳ Nam, Ibid, trang 81



Ngài ở đây chỉ ai? Một cán bộ cộng sản cao cấp ở trên Nguyễn Bình!! Cho đến nay, không ai biết rõ Ngài là ai ? Không một tài liệu cộng sản chính thức của cộng sản đề cập đến vấn đề này ..

Nguyễn Bình phải tuân lệnh cấp trên, nhưng là một việc làm trái lương tâm nên ông tự thú nhận:

Tôi rất khổ tâm.

Sau này, mỗi lần Mặt Trận có họp thì Nguyễn Bình đề cử giáo sư Phạm Thiều đại diện thay ông.

Về quân sự, lúc đó tướng Bình nắm trong tay 20 chi đội trong Khu 7.

Cũng trong thời gian này về mặt quân sự, với 35 ngàn binh sĩ dưới quyền, Leclerc đã bình định xong Nam Bộ. Nguyễn Bình khoanh tay nhìn trong sự bất lực. Một người xuất xứ từ miền Bắc vào Nam đã là khó. Lại còn muốn thu phục mọi quyền lực thu vào trong tay là một điều khó gấp đôi.

Khó chẳng những đối với các nhóm giáo phái đã đành mà khó ngay trong nội bộ đảng? Có chỗ nào cho thấy Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thuần và Lê Duẩn tuân phục?


 Từ trái sang phải: Huỳnh Văn Nghệ, Lê Duẩn, Nguyễn Bình, Dương Quốc Chính, Chiến khu D, 1-3-1948

Phần Cédille thấy Nam Bộ đã ổn định về mặt quân sự nên về mặt hành chánh lo thiết lập một chánh phủ Nam Kỳ tự trị.

Về điều này, chính VNG cũng phải nhìn nhận trong nỗi bất lực về quân sự trước Pháp. Trong một chuyến tham quan phía Nam về, ông Võ Nguyên Giáp có đến gặp Bảo Đại và ở lại dùng cơm trưa với Bảo Đại đã buồn rầu thổ lộ: Chúng ta đành phải chấp nhận sự trở lại của người Pháp .. Chúng ta không còn có cách nào khác .. Ở Nam Bộ, Pháp đã phá hủy toàn bộ tổ chức của chúng ta đã xây dựng với biêt bao nhiêu khó khăn . Nay thỉ họ đã kiểm soát được tất cả .. Rồi chẳng bao lâu nữa , họ sẽ đổ bộ. Làm thế nào để chúng ta có thể chống đỡ lại họ .. Chúng ta chỉ có một số binh đội, nhưng trang bị thì còn thiếu thốn lắm.

Cecil B. Currey, Victory at any cost, trang 116



Nam Bộ hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của Pháp. Phần Việt Minh, tướng Bình chỉ có 20 chi đội so với 35 .000 quân Pháp, chưa kể không được tiếp tế và trang bị vũ khí. Tướng Bình làm gì được ngoài việc ám sát và khủng bố?

Cuối năm 1946, tây đánh mạnh vào chiến Khu D, bộ chỉ huy khu 7 của tướng Bình bỏ chạy. Năm 1947 tạm thời bộ chỉ huy của tướng Bình đành rút về đóng ở Đồng Tháp.

Những hoạt động khủng bố, ám sát, thủ tiêu của tướng Nguyễn Bình.

Có thể nói, trong cuộc chiến tranh này, cái yếu của Nguyễn Bình là không thể đương cự trực diện với Tây và đã phải rút về trú ẩn ở Đống Tháp năm 1947. Nhưng cái mạnh của Nguyễn Bình là có thể tiến hành một cuộc chiến tranh khủng bố, ám sát có một không hai trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Thời kỳ huy hoàng nhất của tướng Nguyễn Bình là vào thập niên 1950 mà ngoài Bắc thì đã chuyển hướng thành cuộc chiến tranh dàn trận với sự hậu thuẫn của Trung Quốc.

Trong Nam là chiến tranh khủng bố, ngoài Bắc là chiến tranh dàn trận với nhiều chiến dịch khác nhau.

Và điều này chứng tỏ tướng Nguyễn Bình đã có lúc gây khó dễ cho Pháp không ít. Và cái an bình của thành phố Sài gòn đã có lúc rơi vào sự khủng hoảng kinh hoàng do Việt Minh gây ra.

Dư luận Nam Bộ nói chung lúc bấy giờ- người Việt Nam cũng như người Pháp- rất sợ tướng Bình về những hoạt động khủng bố, thủ tiêu người của tướng Bình ..

Nhà báo Nguyễn Kỳ Nam viết rằng:

Nói đến Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp, tôi phải nói đến Nguyễn Bình mà lúc đó ai nghe đến tên Nguyễn Bình là thấy khiếp sợ rồi. Đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống Pháp, không hề nghĩ đến cộng sản. Không cộng sản, không Việt Minh, họ cũng vẫn kháng chiến.

Nguyễn Kỳ Nam, Ibid, trang 80



Thoạt đầu chính phủ Nguyễn Phan Long đã gửi một thư cho tướng Nguyễn Bình với những đề nghị tìm một giải pháp hòa bình ..

Lá thư được đáp lại trên đài Tiếng Nói Nam Bộ của tướng Nguyễn Bình bằng những lời lẽ cương quyết như sau:

Tất cả các bộ trưởng, công chức cũng như những bọn đầu cơ chính trị phải trả giá. Thời cơ đã đến và cuộc tấn công vào Sài Gòn sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới ..

Lời đe dọa ấy trở thành sự thật vào đầu tháng giêng, 1950, chiến thắng nằm trong tay tướng Bình. Nên nhớ đây là chiến thắng đối với chính phủ Quốc Gia chứ không phải quân đội Pháp.

Ở đây không có cuộc chiến tranh dàn trận giữa những người lính, không có những cuộc nổi dậy của quân đội. Không, bởi vì nếu có một cuộc nổi dậy như vậy thì quân đội Pháp sẽ dễ dàng can thiệp và nhảy vào cuộc..và sẽ đè bẹp ngay ..

Ở đây thuần túy là các cuộc khủng bố, các cuộc ám sát người- Và cứ như thế, chẳng bao lâu Việt Minh sẽ làm chủ Sài gòn .. Lực lượng kháng chiến trong bí mật dần dần xuất hiện và trở thành những người chủ tương lai của Sài Gòn ..

Đấy là tất cả sách lược của tướng Nguyễn Bình theo lệnh của Hồ Chí Minh.

Kết thúc chiến lược ấy là việc ám sát cò Bazin do người của tướng Nguyễn Bình. Vào ngày 28 tháng tư 1950, cò Bazin được chở vào nhà thương trong tình trạng hấp hối. Nhưng cò Bazin là ai?

Theo tài liệu viết về Huỳnh Tấn Phát viết như sau về cò Bazin (Marcel Marshal Bazin):

- Sau này tôi mới biết đó là cò Trần Bá Thành, một tên thẩm vấn ác ôn khét tiếng ở bót Catinat. Còn thằng Tây là cò Bazin, chánh mật thám bót Catinat Sài gòn, nổi danh giết Việt Minh thời đó. Lúc này chúng cố lôi kéo mua chuộc trí thức như anh Phát nên cò Bazin ra hiệu cho tôi đến ngồi đối diện với anh.

Huỳnh Tấn Phát, Cuộc đời và sự nghiệp, nhiều tác giả, trang 163



Đó là một cuộc ám sát hoàn hảo của một tay chuyên ngiệp. Y mặc một bộ complet, tay sách cặp, thong thả đến trước cửa nhà cò Bazin- lúc ấy vào khoảng 7 giờ 20 sáng-giờ mà có Bazin sắp sửa bước lên xe ô tô đi làm. Như chớp, tên mặc áo vét dở cặp lấy khẩu súng ra và khi còn cách Bazin nột thước. Y bấm cò, bắn nhiều phát. Bazin quỵ xuống .. Và sau đó kẻ ám sát chui vào một xe hơi (Traction-avant) với đồng lõa biến dạng .. Đám đông nghe tiếng súng nổ chạy toán loạn.

Đó cũng là một trong những cuộc ám sát do người của tướng Nguyễn Bình thi hành. Chính tướng Bình đã ra lệnh cho đội ám sát 905 giết Bazin mà trụ sở lưu động của tướng Bình ở cách Sài gòn 8 cây số.. Tướng Bình là thứ người mà bà Nguyễn Thị Liên Hằng trong Hà Nội’s War gọi là loại du côn phong thái giang hồ.(swashbuckling).

Nguyen thi Lien Hang, Hanoi’s War, trang 26



Nhóm 905 được gọi là những quyết tử quân(Volontaires de la mort). Họ được huấn luyện kỹ càng và được coi là những kẻ giết người chuyên nghiệp.

Trước khi bị ám sát, Cò Bazin không phải là không biết số phận của mình. Ông chiến đấu chống Việt Minh trước hết là để bảo vệ mạng sống của chính ông. Vì hằng ngày, trên làn sóng điện phát thanh của Việt Minh ra rả mỗi ngày câu đe dọa sau đây: Bazin, ngươi sẽ phải đền tội. (Bazin, tu vas mourir) Cò Bazin hiểu rằng ông đứng đầu danh sách những kẻ mà Việt Minh muốn thủ tiêu. Những kẻ muốn ám sát ông hiện đang có mặt ở Sài gòn và ông không còn bao nhiêu thời gian để khai trừ họ và nếu không làm được thì sẽ đến lượt ông! Ông hiểu cái cái nghề cảnh Sát chìm của ông-nó là một phần đời sống của ông-. Ông nắm giữ trong tay nhiều hồ sơ của những người cộng sản .

Nhưng hiện nay, cộng sản như ở khắp nơi trong Saigòn. Người của Nguyễn Bình len lỏi vào trong mọi bộ ngành chính thức của chính quyền. Họ có mặt trong mỗi khu vực, trong mỗi phố, mỗi nhà ..

Những người này lấy thông tin rồi tuyên truyền và đi thu tiền bạc ỡ những tay giầu có buôn bán có máu mặt như một thứ thuế máu để đổi lấy sự an toàn của bản thân họ. Trong một thành phố có chiến tranh, những kẻ giầu có luôn là kẻ tài trợ cho nhiều phe phái.

Nay Nguyễn Bình đã mang chiến tranh vào trong chính trung tâm Sài Gòn và coi việc ám sát thủ tiêu sẽ là con đường đưa tới chiến thắng, làm chủ Sài Gòn.

Và theo Lucien Bodard, tướng Nguyễn Bình đang điều khiển một guồng máy giết người kinh khủng nhất giết từng người và giết hàng loạt- một thứ Ministère de la mort-. Guồng máy ấy tướng Nguyễn Bình trao trách nhiệm cho Lê Văn Linh. Trong tay Linh, y có danh sách đen những người mà y sẽ thủ tiêu.

Những người làm việc cho Linh có khoảng vài trăm người được huấn luyện dưới sự huấn luyện của những kẻ đào ngũ gốc Đức. Họ sống rải rác ở Sài Giòn, không giấy tờ, không có súng ống, ăn mặc như bất cứ người nhà quê nào. Nếu bất ngờ có bị mật thám Pháp hỏi thì họ khai bất cứ tên tuổi nào mà không có cách chi tìm ra lý lịch của họ. Họ chỉ có một địa chỉ tìm đến để gặp các đồng chí và khi nhận lệnh thì được cung cấp súng đạn, lựu đạn đã được cất dấu đâu đó.

Thi hành xong công tác, họ mau chóng thoát khỏi Sài Gòn về hậu cứ chờ đợi một công tác khác.

Mỗi chuyến công tác bao gồm 4,5 người và những công tác ấy thường diễn ra giữa ban ngày hay ngay trong nhà nạn nhân với sự thỏa thuận đồng lõa của đầy tớ trong nhà. Công việc đã được tính toán kỹ lưỡng, điều nghiên từng chi tiết của nạn nhân.

Công việc nhiều khi nhanh chóng, giản dị- chỉ chừng vài phút là xong. Và họ ra khỏi Sài Gòn như lúc họ vào Sài Gòn..

Sau cái chết của Cò Bazin. Nguyễn Bình làm chủ Sài Gòn trong hai tháng trời!

Lucien Bodard, sơ tóm La guerre d’Indochine, từ trang 443-451



Ngoài những tay ám sát chuyên nghiệp, Viet Minh còn thuê cả trẻ con trong việc ném lựu đạn ..Trong vụ ném lựu đạn vào nhà hàng Cafe restaurant Paix là do hai thiếu niên 15, 16 tuổi khi bị bắt đã khai ra. Chúng được cho 20 đồng và được chỉ dẫn cách sử dụng một trái lựu đạn rồi đem thi hành với lời dọa: Không thi hành thì sẽ bị giết. Và hầu như mỗi tuần đều có xảy ra chuyện ném lựu đạn do những kẻ không chuyên nghiệp, không phải Việt Minh.. Nhiều quả lựu đạn đã không nổ..

Việc ám sát và khủng bố của tướng Nguyễn Bình thật ra nằm trong chủ trương và đường lối của cộng sản từ Hồ Chí Minh đến Võ Nguyên Giáp. Tướng Bình chỉ làm theo chỉ thị của cấp trên.

Xin trích dẫn tài liệu theo chỉ thị của Hồ Chí Minh mà tác giả cuốn Tôi bỏ đảng ghi lại trong dịp Đại Hội Anh Hùng chiến sĩ thi đua năm 1952 được đón Bác Hồ đến thăm. Bác đã căn dặn như sau :

Mỗi lần chú giết được Tây hoặc Việt gian thì phải viết giắt cài lên áo công bố tội trạng. Nếu muốn cho xác người chìm xuống thì các chú phải mổ bụng và bổ đôi cái bao tử thì cái xác mới chìm xuống được.

Nghe kể chuyện giết người, tôi choáng váng sợ hãi, nhưng rồi cũng phải vỗ tay tán thưởng, ca ngợi thành tích các anh hùng. Những anh hùng này về sau cùng xếp vào một lớp với tôi, có tất cả là 101 sinh viên lớp chế tạo máy. Trong số 101 thì hơn phân nửa là quân đội biệt phái.

Hoang Hữu Quýnh, Tôi bỏ đảng, 1989, trang 108



Bác dặn dò kỹ càng và độc ác tàn bạo đến thế là cùng!!

Trong tài liệu của Ban Biên tập Truyền thống Tây Nam Bộ, cũng xác nhận có gây khủng bố như sau :

Ở Cần Thơ, có Trung đội Ngô Hồng Giỏi được trang bị đầy đủ. Một số cán bộ trở về lập ra Sát gian đoàn, chuyên làm công tác trừ gian, diệt ác tại thị xã.

Tháng sáu-1946, Sát Gian đoàn dùng lựu đạn đánh vũ trường nằm trên đường Phan Đình Phùng, Cần Thơ làm chết và bị thương một số sĩ quan Pháp. Sau đó hai mật thám ác ôn bị trừng trị, khiến cho bọn tay sai gián điệp chỉ điểm cùng bọn tề gian ác rất hoang mang. Lo sợ.

Ghi lai. Trong Lớn lên với đất nước, Vỵ Thanh, trang 453
Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67



Theo tác giả Hillaire du Berrier, ông này cho rằng Bình được huấn luyện tại Moscou và được chỉ dạy những phương pháp giết người. Hillaire du Berrier còn quả quyết một điều đi ngược với tài liệu phía Việt Minh:

-A point to bear in mind as one stuties everything this iron-willed murderer did thereafter is that in Binh we find the perfect example of the tool of the Russians, able to say in all honesty that he was never a Communist. For Nguyen Binh to the end, never belonged to the party. It was always as a nationalist that shining, overworked word, that he worked.

Hilaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 65

Sự phủ nhận một cách xác quyết tướng Bình không phải là người cộng sản của tác giả Berrier đặt những người đang ra sức thổi phồng tướng Nguyễn Bình rơi vào một trường hợp khó xử.

Sự xác quyết này không phải là không có căn cứ. Tướng Bình thường hành xử một cách tự quyền-nặng óc đàn anh-đàn em, dùng người theo kiểu giang hồ, bất kể thành tích tốt xấu, pha thêm chút máu giang hồ, lưu manh cũng có làm sao chịu gò vào khuôn mẫu kỷ luật của đảng? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên nhận được các bá cáo bất lợi ấy về tướng Bình.

Cho nên, dù có cho vào đảng thì củng chỉ là một phương thức để kiềm chế Nguyễn Bình. Vì thế, theo tác giả Nguyên Hùng, tướng Nguyễn Bình, sự thật và huyền thoại xác nhận rằng:Vũ Huy Xứng là người đã làm lễ kết nạp tướng Nguyễn Bình vào đảng vào tháng 2-1947. Và đến 25-1-1948 được phong trung tướng cùng với 8 người khác

H. Berrier còn cho rằng vào năm 1944, những ngày đầu tiên khi còn hoạt động bên cạnh Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Tướng Bình đã cùng với Võ Nguyên Giáp ám sát, khủng bố những thành phần quốc gia chống Pháp mà trước đây Bình từng là đồng chí với họ thời năm 1930. Bình và tướng Giáp đả mở những cuộc thanh trừng và sát hại rất nhiều thành phần được coi là Việt Gian. Khi giết những đồng chí Quốc Dân Đảng, phải chăng Nguyễn Bình muốn trả cái thù bị đâm chột mắt khi còn bị giam ở Côn Đảo? Rõ ràng cái gợi hứng ám sát và thủ tiêu những thành phần thù địch, Nguyễn Bình bước đầu cùng đi một con đường với tướng Giáp.

Tóm lược Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67



Nếu đúng như lời trích dẫn của Bernier thì phải coi tướng Giáp là một loại sát thủ có hạng và được coi là người trực tiếp chỉ huy tướng Nguyễn Bình!!!Nguyễn Bình sau khi nghe tướng Giáp lý luận, ông đã thuận theo và từ nay, ông sẽ làm theo lệnh của tướng Giáp.

Anh hãy nghe đây, tướng Giáp nói với Bình: Anh là một người quốc gia thông minh. Anh phải đứng chung trong hàng ngũ của chúng tôi nếu không chúng tôi sẽ thủ tiêu những người bạn trẻ của anh. Chúng tôi phải làm như vậy bởi vì họ sau này có thể là những kẻ phản bội. Anh đã biết nếu những người này trở thành những người anh hùng? Bây giờ thì có thể họ chưa là gì, nhưng sau này thì họ sẽ đi vào lịch sử. Bởi vì họ đã làm được một số công trạng trong những năm vừa qua, họ ham muốn quyền lực. Nhưng họ lại không xứng đáng được. Và để đạt được quyền lực đó, họ chỉ có một con đường mà họ có thể làm được. Là họ sẽ cộng tác bắt tay với bọn Quốc Dân Đảng hoặc với Pháp. Họ phải bỏ đi thôi.

Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67



Cho nên, nhìn toàn diện các hoạt động khủng bố, ám sát ở những ngày đầu cuộc kháng chiến, ta phải coi tướng Giáp là người chủ trương như nhận xét của Robert J O’ Neill:

- Tướng Võ Nguyên Giáp chịu tất cả mọi trách nhiệm trong khi Hồ Chí Minh vắng mặt về việc sát hại hằng trăm các nhà chính trị dám chống lại Việt Minh, phá hại tất cả các tổ chức nào xem ra có thể cạnh tranh với Việt Minh cũng như cấm đoán mọi tờ báo nào xuất bản mà không có sự kiểm soát của Việt Minh. Ông cũng đã thiết lập được một quân đội từ 30.000 lên 60.000 cũng như một đơn vị tự vệ từ các thường dân…

Robert J O’ Neill, General Giap: Politician & Strategist, trang 44



Tại sao những cán bộ Việt Minh thời 1945 cho đến nay 2013 vẫn không đả động gì đến những vụ khủng bố, ám sát tàn bạo dành cho những thành phần đảng phái và không đảng phái, thành phần tôn giáo do sự chỉ đạo của tướng Võ Nguyên Giáp?

Ông Nghiêm Kế Tổ đã ghi lại một cách chi tiết như sau:

-Số nạn nhân Việt gian lên đến hàng ngàn, hàng vạn. Giam cầm, đầy ải hoặc thủ tiêu? Chẳng ai biết, chẳng ai hay. Được thể dân quân du kích, Công an hay Ủy ban kháng chiến cứ việc bắt bớ thẳng tay, không thương tiếc. Tâm lý bắt Việt gian và tâm lý sợ Việt gian trong vùng Việt Minh kéo dài từ 1946 mãi đến năm 1948 mới tạm dịu sau khi xảy ra một vụ bắt Việt gian kinh thiên động địa tại Việt Bắc.

Vụ Tổng kiểm soát, hay nói bằng một danh từ mới và thích hơp hơn: vụ bố ráp vĩ đại cả Bắc Việt lẫn Liên khu IV ( nửa nước VN) đã làm cho hàng ngàn dân chúng chết oan uổng và hờn giận. Không phải riêng dân chúng bị bắt, bị tra tấn, bị thủ tiêu, ngay đến cả trong quân đội, trong đoàn thể, trong hàng ngũ cộng sản, số sĩ quan, nhân viên và đảng viên chịu cực hình cũng nhiều không kém. !!

Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam Máu lửa, trang 130-131.



Cho đến khi đang viết những dòng nảy, tôi vẫn không hiểu được những lệnh thủ tiêu, giết người Quốc Gia là theo lệnh của tướng Võ Nguyên Giáp- bằng cớ rõ ràng là như thề-. Nhưng dư luận phương Tây cũng như Việt Nam, hình ảnh của tướng Giáp vẫn được coi là một người anh hùng, một tướng lãnh với tài cầm quân, mặc dầu ông đã nướng không biết bao nhiêu sinh linh các chiến sĩ chết dưới quyền của ông- một đổi lấy bốn hay năm mạng người lính-.

Thật không hiểu được!

Trong khi tướng Bình ở Nam Bộ cũng ám sát, cũng thủ tiêu thì nhận rất nhiều tai tiếng!!
Trung tướng Nguyễn Bình

Trung tướng Nguyễn Bình

Tướng Bình được giao trách nhiệm vào Nam bộ, ông có nhiệm vụ là hợp nhất nhiều thành phần hỗ tạp lẫn lộn trong nhóm Bình Xuyên và thống nhất các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo trong việc chống lại người Pháp.

Sau cái chết của cò Bazin, Saigon nằm trong tay Nguyễn Bình. Và các cuộc khủng bố ấy tiếp tục kéo dài..Phố xá vắng hoe, kiều dân Pháp không dám ra ngoài đường. Rồi lần lượt nhiều Pháp kiều đã gục ngã sau Bazin như các vụ ám sát các kỹ nghệ gia chủ hãng thuốc lá- chủ đồn điền cao su- viên chức và nhà buôn.

Họ bị giết trong nhà, chết ở ngoài đường, thây bị vứt ở một góc phố nào đó có tấm bảng treo ở cổ. Đó là sự khủng bố trắng gây kinh hoàng cho mọi người .

Lucien Bodard, La guerre d’Indochine, tóm sơ lược từ các trang 446-464



Người Pháp hầu như bất lực trước những cuộc ám sát của Nguyễn Bình.

Theo một hai người bạn lớn tuổi nhớ lại ký ức về giai đoạn đó kể lại rằng: Chỉ cần thủ một quả lựu đạn vào một rạp cine chỗ đông người, thảy trái lựu đạn rồi biến mất để lại một khung cảnh kinh hoàng người chết, người bị thương.

Berrier mô tả thêm:

-Binh murderd more people, with more brutality, than any Oriental since Genghis Khan, and did it as America’sprotege as well a Ho Chi Minh’s and the Russia’s..(..)No man has a right to be neutral . If he neutral, kill him..

Hillaire de Berrier, Ibid, trang 67



Hàng ngày đài tiếng nói Nam Bộ rao truyền sự hận thù và sự kinh hoàng bằng cách đọc tên những thành phần sẽ bị thù tiêu trên một danh sách có sẵn.

Nhưng mọi chuyện đã mau chóng thay đổi, đem lại một không khí an bình giả tạo cho bộ mặt Sài Gòn.

Phải đợi đến khi thủ tướng Trần Văn Hữu họp báo và tuyên bố giao ngành an ninh cho một viên cựu đốc Phủ Sứ, tên Tâm- người được coi là hùm xám Cai Lậy.

 Ông Trần Văn Hữu (1896 - 1984)

Từ đây mọi chuyện bắt đầu đổi khác. Việc đầu tiên, Tâm làm sạch nội bộ ngành công an tìm ra một viên thứ ký là người của Việt Minh gài vào .. Mọi tin tức dù mật đến đâu đều lộ ra ngoài đều do người thư ký này bá cáo cho tướng Nguyễn Bình.

Tâm khai thác, hỏi cung và khi khai thác xong, tìm ra đường giây đầu mối qua viên thư ký này xong. Tâm thẳng tay mang ra xử bắn ngay trong ngày và sau đó bất cứ một nghi ngờ nhỏ nào mà trùm Cai Lậy biết được thì cũng là nguyên cớ để lôi ra tra khảo bằng đủ loại cực hình.

Phải nói sự tra tấn hoàn toàn bất nhân và bằng những hình cụ độc ác nhất!!

Tâm làm việc có kế hoạch, thu được nhiều tin tức, sẵn sàng chi tiền lấy tin tức. Tâm bỏ ra 60.000 để lấy tin tức từ một người chỉ điểm chỗ ỡ ở của Lê Văn Linh. Tâm bắt giam người đó và cho biết nếu chỉ đúng thì có 60.000 ngàn, nếu chỉ sai thì chỉ có chết. Tâm sau đó đã mở cuộc vây bắt Linh. Y còn đang ngủ. Lục soát đằng sau một tủ sách mà đằng sau dấu những khẩu súng liên thanh, súng lục từng dùng để đi ám sát. Ở một phòng khác đầu đủ hồ sơ những ngưởi sẽ bị thủ tiêu với ngày giờ thi hành.

Và một hồ sơ lớn đầy đủ về chính ông Tâm. bắt trọn ổ 4 người của tướng Bình mà người đứng đầu là Lê Van Linh.

Lê Văn Linh được coi như cánh tay mặt của tướng Nguyễn Binh ở tại một biệt thự đường Frères-Louis. Linh bị bắt không kịp chống cự. Khám phá nhà Linh còn bắt được một Hoa Kiều bị Linh bắt giam, đòi tiền chuộc mạng với giá một triệu đồng. Ông Tầu trả công thưởng 100.000 đồng cho Tâm. Tâm lấy số tiền đó trả 60.000 cho người chỉ điểm ..

Từ những người vừa bị bắt, Mai Hữu Xuân- một thứ sản phẩm của trùm mật thám Bazin từ trong huyết quản-ông trùm của mật thám- và sau này cũng là người được lệnh thanh toán anh em ông Ngô Dình Diệm năm 1963.

Và ngay ngày hôm sau Mai Hữu Xuân bắt trọn ổ 40 người khác của Nguyễn Bình.

19 ngày sau, một tên trùm Việt Minh chuyên ám sát bị tóm ở một biệt thự khác, đường Luro tên Van San ..

Việc bắt trọn ổ này là công khai thác, mua bán tin tức mà người Pháp gọi là: La vente des tuyaux,

Kết quả mẻ lưới của Tâm-Xuân bắt được cả thẩy khoảng 100 người của tướng Bình. Kể như hệ thống khủng bố và ám sát của tướng Bình bị xóa sổ.

Cũng theo nhận xét của Philip B. Davidson nhận xét về ông Tâm như sau:

Cái ngưởi có thể đánh bại Bình là một người vóc dáng nhỏ thó, già, một thứ cảnh sát đã hết thời mà trước đây có tiếng là sát thủ và hùm Cai Lậy. Chỉ trong vài tuần lễ, Tâm phá sạch mạng lưới tình báo của Bình bằng cách tra tấn những tình báo viên bị bắt, Tâm bắt giam hoặc thủ tiêu những phe đảng của nguyễn Bình. Cho đến giữa năm 1950, Tâm đã có thể quét sạch bóng dáng của Bình ra khỏi Sải Gòn.

Philip B. Davidson, Ibid, trang 82


Ông Nguyễn Văn Tâm (1893 - 1990). Ảnh chụp năm 1951. Ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng dưới chính quyền Bảo Đại từ 1952 đến 1953


Tướng Mai Hữu Xuân

Tâm không đưa những kẻ khủng bố ra tòa án VN vì các ông tòa Annam sợ không dám xử, sợ bị Việt Minh trả thù. Tâm đưa thẳng các bị can cho tòa án Tây xử. Các tòa án Tây xử theo luật có từ thời Nhật đặt ra rất khắt khe- bị can chỉ có thể rơi vào hai trường hợp: Hoặc số 76 hoặc số 83.

Giữa hai số đó có sự khác biệt lớn lắm. Chẳng may rơi vào số 76 là nhận án tử hình và 83 là tù chung thân.

Việt Minh qua tướng Bình đã thất bại trong cuộc chiến tranh khủng bố và phá hoại ở Sài Gòn, không phải với người Pháp mà với cặp Tâm-Xuân.

Tại sao Tâm làm được việc xóa sổ người của tướng Bình? Và đã có thể phá tan hệ thống khủng bố ấy trong thời gian vài tháng? Trong khi các tổ chức đảng phái Quốc Gia như Quốc Dân Đảng, Đại Việt đã bó tay trước các cuộc tàn sát và khủng bố của tướng Giáp ở ngoài Bắc?

Chính thức, tôi dựa vào tài liệu của Lucien Bodard vì tác giả có được các bút ký của tướng Nguyễn Bình viết mỗi ngày khi bị VNG gọi ra Bắc .. Đây là tài liệu khả tín do Phòng Nhì Pháp có được sau khi khám xét thi thể tướng Bình lúc bị thảm sát ở Campuchia.

Những bút ký ghi lại ấy chẳng khác những di chúc để lại cho vợ ông và cho biết những âm mưu muốn triệt hạ ông.

Phần tài liệu về phía Việt Nam có rất nhiều. Nhưng không dùng được vì chỉ là sách vở tuyền, che dấu sự thật, cắt xét phần bút ký của tướng Bình trên đường ra Bắc:

Cho đến nay, câu hỏi đặt ra ai giết tướng Bình vẫn là một câu hỏi .. Nhà báo Bùi Tín trong một dịp trả lời phỏng vấn cũng đặt câu hỏi ai giết tướng Nguyễn Bình, trung tướng tư lệnh Nam bộ?

Bảy Viễn và Bình Xuyên đối đầu với tướng Nguyễn Bình

Bảy Viễn là một nhân vật huyền thoại mà cuộc đời của ông ta còn vượt hơn cả những nhân vật truyện trong các phim ở Holywood.

Ông ta là kết tinh của tinh thần yêu nước và tướng cướp, kết tinh giữa cái hào hiệp và sự thanh toán dã man. Trong Bảy Viễn có cả cái tốt lẫn cái xấu, chất giang hồ hảo hán và cả lòng yêu nước. Ông chống Pháp, nhưng trấn lột những nhà giàu, bắt những kẻ giàu có đóng thuế để nuôi đám đàn em. Ông phạm nhiều tội ác như giết người, nhiều thủ đoạn trái pháp luật.

Vì thế, con người huyền thoại ấy tiêu biểu cho giới giang hồ miền đất Nam Bộ. Một thứ anh chị nổi lên từ criminal background trong thời chiến.

Không lạ gì, một sinh viên người Pháp, anh Pierre Debezies đã làm hẳn một luận án tiến sĩ Luật và đã đưa ra một nhận xét khá chính xác như sau về con người Bảy Viễn:

Bảy Viễn chắc chắn là một khuôn mặt kỳ lạ nhất ở miền Nam Việt Nam. Làm thế nào mà một tên cướp xa lộ bị săn đuổi bởi nhà cầm quyền qua những vùng lầy ở Soài Rạp mười năm trước đây nay có thể có một địa vị như anh ta có được ngày hôm nay.

Hillaire du Berrier, Ibid, trang 55

Bảy Viễn, Lê Văn Viễn (1904 - 1970)

Bảy Viễn vốn chỉ là dân giang hồ, ăn cướp và từng bị án 12 năm tù ở Côn đảo. Nhưng mới thụ án được 4 năm thì Bảy Viễn đã tố chức đóng bè và trôi dật về bờ biển Phan Thiết. Sau đó lại bị tù ra Côn Đảo trong một vụ cướp. Án tù là 12 năm cộng với 8 năm chưa thi hành, nhưng ông lại vượt ngục với Mười Trí.

Thành tích duy nhất là những lần vượt ngục Côn Đảo.

Khi trở Bảy Viễn vượu ngục từ Côn Đảo về Sài gòn thì tình hình rất lộn xộn. Nhật cướp chính quyền, rồi đầu hàng. Bảy Viễn gặp lại Ba Dương, Maurice Thiên và cùng với Mười Trí lập bộ đội, tự nhận là Ủy viên quân sự.

Ngày xưa là dân giang hồ nay nghiễm nhiên là chiến sĩ, là ủy viên quân sự dưới quyền có khoảng 100 người.

Sau khi Ba Dương bị sát hại trong một cuộc càn của Pháp thì cuối cùng Bảy Viễn được Nguyễn Bình đề cử khu phó và Bảy Viễn đóng trụ ở Rừng Sác.

 Ba Dương, Dương Văn Dương (1900 - 1946), người sáng lập lực lượng Bình Xuyên

Theo tài liệu của Huỳnh Tấn Phát cho thấy Việt Minh có mở lớp huấn luyện cán bộ cho Bình Xuyên tại Rừng Sác- Rừng Sác là căn cứ địa và chiến khu của Bảy Viễn:

Anh Pham Ngọc Thạch cùng tôi vào Vũng Tàu và anh giao cho tôi mở lớp huấn luyện cho tân binh ở Bà Rịa, còn anh đến Phước An, Rừng Sát tìm hiểu tình hình Bình Xuyên và công tác tại đây một thời gian. Sau đó anh bảo tôi về Bình Xuyên mở lớp huấn luyện cho bộ đội của anh Ba Dương Văn Dương, Tám Mạnh và Dương Văn Hà, những cán bộ vững vàng và trung kiên.

Huỳnh Tấn Phát, Ibid, trang 146



Mặc dầu Bảy Viễn nhận được nhiều hứa hẹn từ phía Nguyễn Bình như cho làm Trưởng Khu 7 (hiện là khu phó), nhưng Bảy Viễn do dự yên lặng vì ông ta thích cái tự do, không chịu nằm dưới chướng của ai và làm chủ những vùng lầy bãi sậy- một thứ trùm băng đảng thu thuế cho băng đảng của mình-. Bảy Viễn có giang sơn của mình. Giang sơn nào anh hùng nấy, đúng tinh thần dân Nam Bộ; anh hùng hảo hớn..

Ngoài ra quyền lợi thu thuế khu vực Sài Gòn Chợ lớn cũng không phải nhỏ mà hai bên thường dẫm chân lên nhau. Nguyễn Bình cũng muốn nắm trọn quyền thu thuế, Bảy Viễn cũng có cơ sở, có đàn em và không muốn mất phần.

Dưới tay Bảy Viển có nhiều cố vấn có học như bọn Lâm Ngọc Đường và Maurice Thiên. Lại thêm có nhà trí thức Trần Văn Ân làm cố vấn chính trị. Bọn này không đời nào để Bảy Viễn mắc vào cái bẫy của Việt Minh dăng ra qua tướng Bình .. Bọn Tài, Sang- tay sai của phỏng nhì Pháp, một loại cố vấn cũng nhất định tìm cách ngăn cản Bảy Viễn xuống Đồng Tháp nhận chức khu trưởng khu 7.

 Ông Trần Văn Ân (1903 - 2002)

Đã hơn ba năm rồi, tình trạng giữa Bảy Viễn và tướng Bình vẫn nhì nhằng và cũng xảy ra nhiều đụng chạm giữa đôi bên. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Bảy Viễn ngả theo Tây như các giáo phái.. Bảy Viễn khai trừ cán bộ miền Bắc trong khi đó thì hai lần tướng Nguyễn Bình mưu toan ám sát Bảy Viễn bất thành ..

Nhưng Bảy Viễn do cái máu lang bạt, do tự ái anh hùng hảo hớn cứ nhất quyết đi dự phiên họp do Tướng Bình mời. Bảy Viễn cẩn thận mang theo hai đại đội đi theo. Buổi họp ấy có đầy đủ chức sắc lãnh đạo của Việt Minh như Phạm Ngoc Thuần, Lê Duẩn. Thuần đã ép Bảy Viễn giải tán Bình Xuyên. Việc yêu cầu giải tán Bình Xuyên là một yêu cầu mà Bảy Viễn không thể chấp nhận được.

Trước khi ra về Bảy Viễn dứt khoát: Không đời nào!!

Tướng Bình nhân dịp này muốn bắt Bảy Viễn, nhưng đã bị Lê Duẩn cản nên Bảy Viễn được thong thả ra về.

Trong khi đó thì hai ông Thiên và Đường- phụ tá của Bảy Viển- đã tiếp xúc với tướng De la Tour là nếu một khi Bảy Viên kéo quân về thành. De la Tour sẽ ra đón Bảy Viễn ngay cửa ngõ vào Saigòn với tất cả nghi lễ dành cho một tướng lãnh Bình Xuyên về với chính nghĩa Quốc Gia!!

Từ chối hợp tác với Nguyễn Bình, Bảy Viễn còn có con đường nào khác?

Nguyễn Bình đương nhiên nghi ngờ Bảy Viễn và tìm cách cho người xâm nhập vào tổ chức và phá tổ chức của Bảy Viễn. Khi biết Bảy Viễn có liên lạc với Pháp thì Nguyễn Bình muốn trừ khử Bảy Viễn.

Và theo tài liệu của Hillaire du Berrier, đã có lần lấy cớ ngày sinh nhật Hồ Chí Minh, Nguyễn Bình tỏ ý muốn gặp Bảy Viễn tại bộ Tham Mưu của mình.

Bảy Viễn nhận lời và mang theo 200 cận vệ dữ dằn nhất của mình để nếu cần cứu nguy và giết Nguyễn Bình khi có dấu ra lệnh.

Khi vào bên trong lều, Nguyễn Bình nói với Bảy Viễn: ông phản bội chúng tôi, nhưng tôi sẵn lòng tha thứ cho ông và đặt tay lên vai Bảy Viễn và ôm ông ta. Đúng lúc ấy thị bọn đao phủ đột nhập vào lều chỉ huy định ám hại Bảy Viễn. Bọn cận vệ của Bảy Viễn can thiệp kịp thời và bảo vệ cho Bảy Viễn rút lui.

Sau việc này, Bảy Viễn sai Lai Hữu Tài như một thư ký riêng đến gặp người Pháp và yêu cầu được cung câp súng đạn để dẹp Việt Minh ra khỏi khu vực.

Ngay cả khi chưa nhận được sự ưng thuận của Pháp, Bảy Viễn cho đàn em thanh toán người của Nguyễn Bình tại các khu chiếm đóng của Việt Minh một cách khủng khiếp. Xác người chết trôi sông không được trình báo.

Bảy Viễn được Savani cho người tiếp xúc và liên lạc kín đáo và họ đã có một thỏa thuận vào ngày 16-8-1948.

Đến năm 1951 thì lại có thỏa thuận với Bảo Đại và được độc quyền khai thác trỏng lãnh vực: Cờ bạc, buôn thuốc phiện lậu và gái điếm. Nổi tiếng với sòng bạc Đại thế giới.

Và chẳng bao lâu sau, uy tín của Bình Xuyên lên cao, Bảy Viễn trở thành một thứ Robin Hood Việt Nam.

 Hình bìa cuốn sách của Pierre Darcourt nói về Bảy Viễn: Bảy Viễn Xếp Xòng Chợ Lớn

Kể từ khi Bảy Viễn nắm quyền, xe đò chạy đường Sàigon- Vũng Tàu thong thả, không bị quân của tướng Bình chặn bắt và đóng thuế. Sài gòn nói chung dưới sự quản lý của Bình Xuyên, Pháp kiều cũng như dân chúng có thể đi chơi đêm mà không sợ bị giết .. Không còn những xác người vứt bên vệ đường với án tử hình treo nơi cổ như một đe dọa những kẻ khác.

Dân chúng được sống an bình trong vài năm cho đến khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước..

Trước những thất bại của các tổ ám sát, tướng Bình đã liều lĩnh tổ chức các cuộc tấn công các đơn vị quân đội Pháp tại các tỉnh, nhưng đã không thành công và tướng Bình cũng đã đụng phái một viên sĩ quan Pháp- một sĩ quan đã gặt hái được nhiều thành công vì tài chỉ huy, vì kinh nghiệm chiến trường và biết lấy lòng dân quê. Đó là tướng Chanson (Charles Chanson).

Binh lính Pháp đi đến đâu là làm công tác xã hội đến đấy để lấy lòng dân!!

Nguyên nhân thất thất bại của tướng Nguyễn Bình ở miền Nam

Tôi đã có dịp viết một bài với nhan đề: Kháng chiến Nam Bộ đi trước mà về sau.

Sơn Nam cũng phản ánh một nhận xét tương tự:

Phải phản ảnh tình hình Nam Bộ, kháng Pháp đi trước miền Bắc và Nam Bộ quá xa xôi, khó được cơ may gặp cụ Hồ như ở ngoài Bắc. Cần chứa đựng nỗi ray rứt độc đáo của Nam Bộ .

Hồi Ký Sơn Nam, Từ U Minh đến Cần Thơ

Kháng chiến khởi đầu ở Nam Bộ, đi một bước trước, vậy mà sau này- bởi vì thiếu những điều kiện khách quan đã là cớ sự cho sự thua trận trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Đây cũng là một thực tế chiến tranh mà không mấy sách vở tài liệu chiến tranh nào của miền Bắc đề cập đến điều này .. Riêng tướng Giáp qua những sách mà đại tướng đã viết ..Người đọc có cảm tưởng chiến tranh Dông Dương chỉ xảy ra luẩn quẩn tại miền Bắc và bên Lào.

Một nửa phần đất phía Trung và Nam Bộ hầu như không có chiến tranh?

* Yếu tố địa lý

Miền Nam là một miền đất mới- khác hẳn miền Bắc về địa lý, dân số, xã hội và tôn giáo. Nói chung đó là một xã hội mở theo nghĩa khả năng thích ứng và hội nhập rất là mạnh. Nó cũng là miền đất được thiên nhiên ưu đãi, đất rộng bao la mà người thưa. Thời Minh Mạng, người ta phải đo ruộng đất bằng Dây thay vì thước tấc.

Một dây có diện tích co dãn từ 5 đến 10 mẫu ta, qua câu ca dao:

Đất năm dây cò bay thẳng cánh

Anh dám hỏi nàng quê quán ở đâu

Sơn Nam, Đất Gia định xưa, trang 64



Miền đất Nam Bộ- miền đất mới- địa giới phân chia làng xóm lại lỏng lẻo, nhà nọ cách nhà kia xa- Mỗi đơn vị nhà cửa mang tính tự lập và không nằm trong khuôn khổ tập tục, xã hội làng xã. Dân làng phần lớn hỗn tạp, dân du nhập đủ thành phần, chẳng theo phép tắc nào cả, nếp sông trôi sông lạc chợ, ở rồi đi, đất rộng người thưa rất khó gom dân lại đễ tổ chức làng xã theo tập tục, nề nếp. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa cũng gặp trở ngại gom dân trong các ấp chiến lược và không mấy thành công.

Sơn Nam trong sách của ông viết:

- Dân U Minh thưa thớt, thiếu tổ chức, Cách Mạng xuống đó làm gì cho mệt, muốn vậy, phải xuất phát từ tỉnh lỵ Rạch Giá này mới có hiệu quả. . Nghĩ vậy, tôi tự hào một mình rằng đã có trình độ, đúng hay sai chưa biết.

Có gì động tĩnh, chỉ lên chiếc xuồng Ba Lá, chốc lát vèo một cái là đã mất hút vào không gian vô tận .

Hồi ký Sơn Nam Ibid, trang 158



Vậy thì quân ở đâu mà rải ra khắp nơi khắp chốn? Vì thế, nếu Việt Minh sống ở các vùng Cần Thơ, Vĩnh Long, Rạch Giá thì có cái ăn, nhưng không có chỗ ẩn náu an toàn. Bị Tây càn là vô phuong trốn chạy. Cho nên, muốn an toàn phải đi xuôi nữa đi sâu nữa vào vùng U Minh .. Đó cũng là căn cứ địa của Khu 9.

Miền Nam chỉ có cái lợi thế địa lý khi đi sâu vào miệt phía Đông Nam Sài Gòn hay miệt Cà Mâu vì ở đấy có những loại cây tràm mọc dưới nước mà không dễ gì len lỏi vào được .. Và phải dùng thuyền nhỏ. Vì thế nó cũng trở thành nơi trú ẩn an cho các lực lượng kháng chiến miền Nam trong nhiều thập niên.

Philip B. Davidson, Ibid , trang 39



Trong khi đó, làng xã miền Bắc là những đơn vị kinh tế, xã hội, tôn giáo, lịch sử, phong tục- một xã hội khép kín- bao bọc bởi lũy tre, làng nọ sát làng kia, nhà nhà san sát nhau chia ra rừng xóm như xóm trong, xóm ngoài, xóm trên, xóm dưới ..

Chính ở chỗ đó dễ kiểm soát dân làng.. Khi Việt Minh về, chỉ cần mấy du kích vào làng bắt đi ông lý trưởng và vài chức sắc là nắm tóc được cả làng. Dân làng sợ hãi riu ríu nghe theo, chó không dám sủa, trẻ con không dám khóc. Kinh nghiệm cá nhân của tôi là khi Việt Minh nổi dậy, họ vào bắt ông Lý Chân-lý trưởng của làng tôi- chẳng biết ông có tội tình gì- và dẫn đi biệt tích .. Bố tôi, chỉ là một ông Trùm, chức phận nhỏ bé, không làm một điều xằng bậy gì, chỉ lo phận sự hàng xứ, lễ lạc cho họ đạo. Ông cũng bị đi tù giam ở trại Lý Bá Sơ. Chỉ có cái may là sau một năm tù, ông sống sót trở về. Nhưng nào đã hết, anh tôi du học ở ngoại quốc về- ở địa phận Hà Nội- tội tình gì bị xử án giam tù cộng chung tất cả hơn 20 năm, lên tận Cổng Trời, nằm Hỏa Lò..

Vào miền Nam đến lượt các anh rể tôi, các cháu đi cải tạo. Tính chung gia đình chúng tôi cống hiến cho cách mạng trên 100 năm tù!!

Tôi vẫn tự hỏi, chúng tôi tội tình gì. Dân chúng tôi tội gì mà bị những tên đao phủ hành hạ đến như thế !!

Địa lý miền Bắc với núi cao hiểm trở, rừng khắp nơi là chỗ trú ẩn an toàn cho kháng chiến .. Các trận chiến thắng có tính cách quyết định cho tướng Giáp đều xảy ở các nơi núi cao hiểm trở, như chiến thắng trong chiến dịch biên giới, chiến thắng Điện Biên Phú.

80% lãnh thổ miền Bắc là rừng, núi thay đổi từ rừng thưa đến dầy đặc. Những cánh rừng bao phủ, che đậy những hoạt động của Việt Minh ở bên dưới. Nó cũng che dấu các kho vũ khí, đạn dược.

Nó cũng là những nơi ẩn lánh lý tưởng cho bộ độ với nhiều lùm cây, bụi rậm..

Vì thế, Pháp khó có thể tiến hành những cuộc tấn công hoặc lục soát mà không bị tổn thất nặng nề vì bị phục kích …

Philip B. Davidson, Viet Nam at war, The History 1946-1975



Và người ta cũng nhận thấy rằng các cuộc tấn công của Việt Minh phần lớn đều phải dựa theo mùa. Đó là thời gian lý tưởng cho các cuộc hành quân ở miền Bắc từ giữa tháng 10 đến giữa tháng năm..

Thống kê cho thấy 19 cuộc tấn công vào quân đội Pháp do tướng Giáp điều động đều xảy ra trong thời gian này trên tổng số 26 cuộc tấn công.

Điện Biên Phủ đã diễn ra cũng trong thời điểm này .. Tết Mậu Thân sau này cũng vậy.

· Yếu tố cá tính dân miền Nam

Tôi hồi tưởng lại hai biến cố cải cách ruộng đất và Nhân Văn Giai phẩm ở miền Bắc vào đầu thập niên 1950. Tôi tự hỏi làm cách nào người cộng sản đã có thể chà đạp con người, khinh rẻ nhân phẩm con người từ người nhà quê đến một người có học vấn đến như thế? Làm thế nào mà người cộng sản có thể bắt người bố gọi con dâu bằng bà và xưng con, còn cô con dâu xưng bà với bố chồng? Tôi không nói đến những thiệt hại vật chất đã đến với những người địa chủ lớn nhỏ vô tội, nhưng tôi thấy họ đã biến những người nông dân hiền lành trở thành một bọn côn đồ, bọn cướp ngày. Còn những nạn nhân như các địa chủ, các nhà văn lớn nhỏ thì sợ hãi nhút nhát như con giun, con dế, van xin, lạy lục để được tha, để được yên thân.

Bây giờ thì người cộng sản tự họ lãnh cái hậu quả của những tên công an đang hành hạ người dân cả nước..Những nhà thơ, nhà văn trong nhóm Nhân Văn Giai phẩm- mặc dầu không thể không kính nể họ- vẫn thấy họ hành xử nhát sợ như những con run, con dế!!

Tại sao tướng Nguyễn Bình đã có thời làm mưa làm gió ở miền Nam lại bó tay thua cuộc? Bởi vì cá tính dân miền Nam quen tự lập, quen sống nếp giang hồ, không chịu ép mình làm tôi tớ cho một người- dủ là tướng ở miền Bắc vào- cưỡi đầu cưỡi cổ-.

Thật vậy, Sau 1975 thì tôi càng nhận thức một cách rõ rệt, đã nhận ra cái cá tính dân miền Nam, nó gìn giữ dân miền Nam đứng vững trên hai đôi chân của mình. Không phải những khu vực như Dốc Mơ, Gia Kiệm, Xóm Mới là những thành trì chống Cộng vững chắc !!. Chính những nơi này –do có tổ chức, có lỷ luật trên bảo dưới nghe- lại tỏ ra dễ bảo hơn các thành phần xã hội khác.
Sau 1975, người ta càng thấy rõ yếu tố cá tính người dân miền Nam đã làm ung thối các chính sách đi kinh tế mới, các buổi học tập dân phố, các chính sách đánh tư sản vv... Nếu chính sách xã hội hóa miền Nam gặp khó khăn và trở ngại là do thành phần đa số dân miền Nam rất ngang bướng, rất khó bảo.

Hãy thử nhìn lại, chỉ 20 năm sau vài trăm ngàn người sĩ quan và công chức cũng như gần 300 nhà văn nhà thơ của miền Nam bị tù tội, bị đi cải tạo. Đã có bao nhiêu người tỏ ra yếu hèn viết những cuốn sách thú tội, tố cáo nhau hoặc tố cáo tội ác Mỹ Ngụy của miền Nam Việt Nam không ?Những Trần Văn Tuyên, những nhà thơ như Vũ Hoàng Chương cho đến lúc chết nào họ có nửa lời biếm nhã với miền Nam ?? Điều gì làm nên sự khác biệt giữa hai giai đoạn dưới sự thống trị của cộng sản? Nếu không phải là cá tính người dân miền Nam nói chung- Bắc 54 nói riêng và miền Nam? Cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa Xã Hội ở miền Nam là một sự thất bại hoàn toàn, nhưng nó lại có thể điều động, khuất phục hàng triệu người miền Bắc như những con cừu?

Người ta còn nhớ trong buổi họp chiêu dụ Bảy Viễn, trước mặt bá quan văn võ, trước mặt tướng Nguyễn Bình, Bảy Viễn chửi và nói thẳng ông ghét người miền Bắc.

Bảy Viễn đứng thẳng lên không nhìn chủ tọa mà ngó ngay Nguyễn Bình:

Trước khi trả lời bốn điều thắc mắc của Khu trưởng Nguyễn Bình, tôi xin nói thẳng điều này, cá nhân Bảy Viễn không tin người Bắc, Tôi cũng không khoái mấy cha chính trị viên. Khi mới lập bộ đội, gian khổ chết chóc thì không thấy các cha đâu, khi bộ đội thành nề nếp, có đại đội, có tiểu đoàn rồi thì các cha vác mặt tới đòi chia quyền chỉ huy..(..) Tôi không tin khu, tôi về đây không phải vì chức khu trưởng các ông dành cho tôi. Thật ra đây là kế điệu hổ ly sơn nhằm tách tôi ra khòi chiến khu Rừng Sác. Đây là hạ sách, đứa con nít cũng biết.

Nguyên Hùng, Bảy Viễn, thủ lỉnh Bình Xuyên, trang 196-197

Cái cung cách Bảy Viễn, cái ngang tàng của Bảy Viễn đối với Việt Minh cũng là điều mà dân miền Nam đáp trả lại cộng sản sau 1975.

Một tính khí- một con người- một miền Nam.

Phải nhìn nhận có một yếu tố nào đó làm cho người dân miền Bắc và miền Nam có hai lối ứng xử khác nhau trước bạo quyền. Tôi nghĩ đó là do cá tính con ngưởi miền Bắc khác miền Nam … Miền Bắc có nêp sống văn hóa quy củ, đã đi vào nề nêp, biết tôn trọng lễ nghi, tập tục và pháp luật nên dễ uốn mình theo kẻ cầm quyền.

Đứng ở một mặt nào đó, cá tính dân miền Nam thể hiện ra qua con người Bảy Viễn. Hành xử giang hồ, dẫm đạp lên pháp luật nên coi trời bằng vung. Bảy Viễn đã sẵn sàng đối đầu với kẻ cầm quyền, chỉ sẵn sàng nói chuyện phải quấy với kẻ biết điều và nếu không được thì chẳng ngại đối đầu trước một viên tướng khét tiếng hung thần như tướng Bình?

 Tướng Bảy Viễn mặc áo quần màu nhạt, đứng bên trái cột cờ, cạnh người mặc quân phục màu xậm (Ảnh từ trang web của ông Trần Văn Tòng)

· Yếu tố tôn giáo

Nhưng quan trọng hơn cả là lực lượng Bình Xuyên và hai giáo phái Cao Đài Hòa Hảo đã là những khu tự trị hầu như bất khả xâm phạm. Đó là những mẫu mực tôn giáo đến lạ lùng. Nó pha trộn các giá trị, niềm tin tín ngưỡng tôn giáo với mê tín và chính trị đến không hiểu được. Nhân vật giáo chủ được huyền hoặc đến độ coi ông Huỳnh Phú Sổ là bất tử, súng đạn bắn không chết. Vì thế khi ông bị Việt Minh ám hại, các giới chức sắc không làm thể nào giải thích về cái chết ấy cho lọt tai ..

Người Tây Phương không hiểu được họ nên gọi họ một cách khinh miệt là những ông đạo khùng.

Các vùng Hòa Hảo, Cao Đài và Sài Gòn –Chợ Lớn của Bình Xuyên hầu như là những khu tự trị- nội bất xuất, ngoại bất nhập-.

Người Pháp không tốn một viên đạn, một tên lính mà tự nhiên bình định được phần lớn lãnh thổ miền Nam !!

Chúng ta thừa biết rằng Hồ Chí Minh và tướng Giáp có ưa gì công giáo Bùi Chu-Phát Diệm- Trước cũng vậy và nay cũng vậy. Vậy mà họ vẩn giả đò nhẫn nhịn giao hảo. Nhân dịp lễ phong chức giám mục Lê Hữu Từ, Ông Hồ Chí Minh đã kéo phần lớn các bộ trong chính phủ lục tục về Phát Diệm- như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Mạnh Hà dự lễ phong chức.

Màn kịch trẻ con ấy, đáng nhẽ phải có một Bảy Viễn công giáo miền Bắc vạch trần ra mới phải.

Đồng thời tạm để yên cho nhóm tự trị công giáo Phát Diệm. Cả một vùng đất từ Ninh Bình nhất là Bùi Chu Phát Diệm giáp giới đến Thanh Hóa dưới quyền giám mục Lê Hữu Từ trở thành vùng trái đệm và đã cứu sống nhiều thành phần đảng phái thoát nạn.

Tôi giả dụ rằng có khu tự trị Bùi Chu và Phát Diệm của công giáo rồi được tiêp nối ngay là khu tự trị của Cao Đài trải dài từ Nam Định, Phủ Lý, Hà Đông lên đến Hà Nội. Rồi từ Hà Nội là khu tự trị Bình Xuyên kéo xuống đến Hải Phòng, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hòn Gay. Và từ đó lên miền thượng du giáp ranh biên giới Việt Trung là lảnh địa khu tự trị Hòa Hảo thì có đến hai Võ Nguyên Giáp, liệu có thể làm gì được?

Vai trò tôn giáo-chính trị là một sản phẩm đặc thù của miền Nam mà rất tiếc miền Bắc không có được!!

· Yếu tố biên giới

Nếu không có một biên giới Việt Trung-một vùng hậu cần rộng lớn là nguồn cung cấp súng đạn, lương thực và huấn luyện thì liệu chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất sẽ xảy ra như thế nào? Làm thế nào, tướng Giáp có những sư đoàn được huấn luyện đầy đủ, được trang bị đầy đủ quân trang quân dụng, được trang bị những võ khí chiến lược như đại bác 105, súng phòng không 37 ly đã làm thay đổi diện mạo trận chiến Điện Biên Phủ ngay từ lúc đầu?

Philip B. Davidson đã có một nhận xét sâu sắc không thể chối cãi được rằng ( Xin trích nguyên văn), một cái lợi thế địa lý tuyệt hảo cho Việt Minh vì giáp ranh biên giới với Tàu:

If the French spread out to control the countryside, they subjected themselves to defeat in small detachments. If they concentrated around the key population centers, they surrendered the rural areas to the Viet Minh.

There was a fourth Vietminh advantage- the location of the Viet Bac(The Vietminh base area) adjacent to China. This factor gave them a priceless sanctuary and logistic base. The Vietbac-China sanctuary provided a source of arms and equipment, training areas, and above all, defensive locations for the organ of the Vietminh government.

Philip B. Davidson Ibid,, trang 43



Biên giới Việt- Trung là một lãnh địa vô giá và lá căn cứ hậu cần cho sự chiến thắng của tướng Giáp.

Và nay chúng ta cũng phải trả một cái giá vô giá về vùng biên giới này. Không biết tướng Giáp có biết điều đó không?

Tất cả những yếu tố trên làm nên cái vinh quang của đại tướng Võ Nguyên Giáp thì cũng là những nguyên nhân làm nên thất bại cho tướng Bình ở vùng Nam Bộ? Việc tiếp tế hậu cần cho Nam Bộ thật vô vàn khó khăn.

Sau đây là trường hợp hợp hiếm hoi giúp đỡ không phải theo nhu cầu mà tiện thể có người vô Nam Bộ nên cung cấp cho miền Nam một số tiền.

Theo tài liệu trong cuốn Huỳnh Tấn Phát kể lại cho hay:

Sau cùng đoàn chuẩn bị về Nam, anh Huỳnh Tấn Phát và tôi được phân công về trước, đưa một đoàn cán bộ quân chính khóa năm Trung Ương ( Khoảng 70 người) tình nguyện vào Nam . Anh Huỳnh Tấn Phát đi nhận nhiệm vụ ở Bộ Quốc Phòng giao cho anh một số tiền lớn đem về cho tướng Nguyễn Bình ở miền Đông Nam bộ ..

Huỳnh Tấn Phát, Cuộc đời và sự nghiệp, trang 143



Số tiền giao cho Huỳnh Tấn Phát đưa vào Nam cho tướng Bình là bao nhiêu thì không rõ, có đủ nuôi quân trong vài tháng trời không.

Về trang bị vũ khí đạn dược thì cửa ngõ duy nhất là Vũng Rô có nhiệm vụ cung cấp vũ khí không phải chì cho khu 7 mà còn cả các khu 8,9 nữa.

Công việc cấp bách lúc đó là xây dựng kho chứa vũ khí, tìm ghe thuyền đưa vũ khí về Nam Bộ. Một trong các kho đó là Vũng Rô mà thủ kho là đồng chí Tất. Chính từ kho Vũng Rô này mà bà Nguyễn Thị Định nhận võ khí chi viện cho Nam Bộ . Các thuyền trưởng Trần Văn Hoài( Hoài Râu), Đặng Văn Qua, Mười Thôi cũng xuất phát từ đó đem súng đạn về cho ba khu 7,8,9.

Nguyễn Bình, Huyền thoại và sự thật,, chuong 45, Ibid .

Số phận hai người họ làm nên số phận hai vùng đất nước mà họ có trách nhiệm!!

Hồi Ký Sơn Nam, Từ U minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9…trang 158
Hứa Hoành, Việt Minh giết Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, namkyluctinh.

Nếu cần phải nói thêm điều gì thì có thể nói rằng yếu tố thời gian là một trong những yếu quyết định phần thắng bại cho đôi bên. Thời gian càng kéo dài càng lợi cho VNG và bất lợi cho Pháp cũng như Mỹ sau này.

Người Pháp và người Mỹ cần một chiến thắng mau lẹ. (Quick victory). Viet Minh cần một cuộc chiến tranh kéo dài (protracted war)..

Cái chết của tướng Nguyễn Bình

Tướng Nguyễn Bình đã mắc phải một số sai lầm không tha thứ được như: định thủ tiêu Bảy Viễn. Giết hại rất nhiều đồng đội của Bảy Viễn. Nhưng quan trọng hơn cả, ông được coi là người có trách nhiệm giết hại lãnh tụ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ.

Mối hận thù ấy đến tận bây giờ, người dân Hòa Hảo vẫn chưa quên và không bao giờ tha thứ cho Việt Minh.

Việc giết giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thật ra có nhiều nguồn tin trái ngược nhau .. Ký giả Nam Đình quy cái tội ấy cho Trần Văn Giàu.

Còn theo Hứa Hoành, việc giết giáo chủ Huỳnh Phú Sổ là do tên Đào Công Tâm, chính trị viên của đại đội 66 (Việt Minh) chủ động hạ sát Đức Thầy vào họp, rồi ùa ra đâm loạn đả vào mọi người (tự vệ quân của Đức Thầy) khi đèn tắt. Đào Công Tâm đã hạ sát Đức thầy không phải Bửu Vinh (Theo lời kể của ông Lâm Quang Phòng, một nhân vật tên tuổi của miền Tây kháng chiến kể lại).

Hứa Hoành, Việt Minh giết Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, namkyluctinh.org

Lợi dụng tình trạng sâu xé nhau ấy, tướng Latour đem tiền bạc vũ khí cung cấp cho họ. Họ được coi như một vùng tự trị, được thu thuế, được tuyển quân. Cả một vùng rộng lớn nay người Pháp có thể yên tâm. Đức Phạm Công Tắc còn ngả theo Nhật, tôn phò Cường để, cung cấp tin tức cho Pháp, cho Nhật..

Việt Minh sở dĩ bị cô lập, theo Hilaire du Bernier vì đã phạm vào lỗi lầm là đã tiêu diệt Phật giáo Hòa Hảo: Aliénation of the Hoa Hao was the first of Binh’s mistakes.

Hilaire du Berrier, Ibid, trang 69

Nữ dân quân Phật Giáo Hòa Hảo, 1948

Nhưng việc đổ mọi trách nhiệm lên đầu tướng Nguyễn Bình thật cũng không đúng.

Theo người viết bài này, cái lỗi lầm không tha thứ được của tướng Nguyễn Bình là đã không đi cùng đường với Tổng Bộ- nói đúng ra không vừa lòng Võ Nguyên Giáp

Và theo cách suy luận biện chứng của người cộng sản thì ông sẽ bị khai trừ. Khai trừ cách nào là chuyện xảy ra sau đó.

Cũng vẫn theo H. Berrier thoạt tiên là khai trừ các tay chân bộ hạ của tướng Bình và được thay thế bằng những người khác từ Bắc gửi vào. Khi nhận được giấy phải ra Hà Nội, ông đã do dự trù trừ trong mấy tuần lễ rồi mới quyết định ra đi .

Xin trích nguyên văn nhận xét của H. Berrier :

For weeks, he stalled. At last, he started, only to be killed by the French along the way.

There were those in the expeditionary corps who suspected that the tip-off which reach their hands was sent by Ho and Giap themselves.

Having Binh intercepted by a French column was a more satisfactory method of execution, for the man was still an idiot to may in the South. He has spilled so much French blood there; and this, to the Viet Minh of Cochin China, was the measure of his greatness.

Hillaire du Berrier, Ibid, trang 70
Việc Bảy Viễn đã từ chối không nhận chức khu trưởng khu 7, nào phải lỗi của riêng tướng Bình? Điều đó cũng là trách nhiệm của Phạm Ngọc Thuần, Lê Duẩn,, Việc sát nhập Bình Xuyên và giải tán Bình Xuyên vào lực lượng Việt Minh thì đương nhiên Bảy Viễn không bao giờ chấp nhận.

Người ta còn nhớ là sau buổi họp với nhóm Việt Minh và khi về lại nơi đóng quân của mình, các quân sư của Bảy Viễn như Maurice Thiên cho rằng : Chúng nó bầy trò phong chức khu trưởng, chỉ là cái bánh vẽ to tướng.

Không còn Bình Xuyên là mất tất cả.

Bảy Viễn cũng đồng ý như thế và nói: Mày nói đúng. Mất danh nghĩa Bình Xuyên là mất tất cả!!

Trích Nguyễn Bình, Huyền thoại và sự thật, chương 45, trongvnmilitaryhistory.net

Tuy nhên, việc đổ vỡ chính trị này, tướng Nguyễn Bình vẫn là người trách nhiệm. Vì ông vẫn bị mang tiếng là một viên tướng ngoài cõi, bất chấp triều đình.

Những lãnh đạo cộng sản khác như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chờ dịp này đổ hết trách nhiệm lên đầu tướng Bình. Loại bỏ được tướng Bình thì có lợi cho họ, Lê Đức Thọ đã không ngần ngại chỉ trích tướng Bình là người bạt mạng, trọng hình thức bên ngoài. Sự loại trừ tướng Bình ra khỏi sân khấu chính trị miền Nam mở rộng chỗ cho Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng và họ là những người trực tiếp thừa hưởng cái việc ra đi của tướng Bình.

Từ trái sang phải: Phạm Hùng, Phó Giám Đốc Sở Công An Nam Bộ, Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Lê Giản, Tổng Giám Đốc Nha Công An Trung Ương, chụp tại Hội Nghị Công An Toàn Quốc, 1950

Phần Hồ Chí Minh đã có lần gửi một thư với nội dung với lời trách cứ như sau: Bác tin chú (chỉ tướng Nguyễn Bình) giữ được tình đoàn kêt mới đưa tới đại thành công.

Nguyễn Bình, Huyền thoại, Ibid, , chuong 50, trang 06

Chính vì bị Tổng Bộ quy trách nhiệm không thống nhất được các lực lượng Bình Xuyên và giáo phái, tướng Nguyễn Bình đã quyết định phải cử Hai Trọng( tức Lương Văn Trọng, thư ký riêng cũa tướng Nguyễn Bình) ra Bắc bá cáo tình hình quân sự Đông Nam bộ. Hai Trọng đã đi cùng với phái đoàn Trần Văn Trà bao gồm: Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Đức Thuận, linh mục Nguyễ Bá Kỉnh, Phạm Văn Cung, Trần Văn Nguyên. Ở ngoài Bắc, tướng Võ Nguyên Giáp bắt Hai Trọng viết một đề án: Cách mạng hóa bộ đội giang hồ.

Trình bày trên cho thấy tướng Nguyễn Bình đã mất uy tín trước tướng Giáp, vì không giải quyết được mâu thuẫn với Bảy Viễn.

Số phận ông nằm trong tay tướng Võ Nguyên Giáp.

Cái sai lầm thứ hai của Nguyễn Bình là những thất bại bị loại ra khỏi Sài gòn đã khiến ông quyết định sống mái với quân đội Pháp. Thay vì tiếp tục chiến tranh du kích, ông mở những cuộc dàn trận. ( Bataille rangée), trực diện đối đầu ở khắp nơi, đánh vào các đồn bốt của Pháp trước sự kinh hoàng của binh sĩ, bất kể những thiệt hại về người.

Tướng Nguyễn Bình hơn ai hết hiểu rằng các đơn vị dưới quyền ông đã kiệt lực, đã thiều thốn đủ thứ, đã không đủ mạnh, đã không đủ người, nhất là trang thiết bị quá yếu kém.

Thật ra, tướng Bình đã làm một liều lĩnh lớn mà bất cứ nhà chỉ huy quân sự nào cũng phải tránh, khi ông từ bỏ lối đánh du kích để tiến hành một chiên tranh dàn trải .( Bataille rangee). Lợi thế sẽ nghiêng về phía Pháp vì họ được trang bị vũ khí, hỏa lực đầy đủ.

Đó là kiểu đánh một mất một còn- nếu thắng là vinh quang. Nếu thua, thua lụn bại..

Bà Nguyễn Thị Liên Hằng cũng có cùng nhận xét dịch sơ lược như sau:

- Tướng Bình đã tiến hành và trả một giá đắt trong việc sát hại những nhóm chống đối cũng như việc mở những cuộc tấn công lớn ( Large-scale attacks) chống lại lực lượng thực dân Pháp. Những cuộc tân công ở mức độ lớn như thế, nhưng lại không đem lại một kết quả quân sự nào ở miền Nam cũng như miền Nam trung bộ. Ông đã bị các thành phần trong nội bộ đảng phê phán mà họ đều thèm muốn cái sự nổi tiếng của ông.

Nguyên Thi Lien Hang, Hanoi’s War, trang 27

Phải chăng vì thế tổng bộ Việt Minh đòi hỏi ông phải trả món nợ đó bằng cách khai trừ ông?

Trong khi đó người Pháp đã phản công một cách đúng mức, có mặt tại những nơi cần có mặt bằng nhảy dù, bằng tầu bè, xe lội nước, băng xe cộ và để lại đằng sau họ nhiều xác chết Việt Minh không kịp chôn cất.

Theo sự nhận định của Lucien Bodard trong sách của ông, có thể nói binh đội tướng Bình hoàn toàn tan rã và không bao giờ có khả năng hồi phục lại nữa. Binh đội tướng Bình phải tìm cách lẩn trốn sang vùng biên giới ráp gianh với Campuchia và lẩn vào rừng già tận mũi Cà Mâu.

Tướng Chanson đã hưởng những vinh dự dành cho ông qua những cuộc tảo thanh này.. Và trong cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Nam đi trước về sau và người dân miền Nam đã sống được một cuộc sống tương đối an bình..

Kết quả là vào năm 1951, Lucien Boudard, dựa vào nhật ký mà người Pháp thu thập được một cuốn nhật ký từ xác chết của tướng Nguyễn Bình.

Căn cứ vào cuốn nhật ký mỏng này mà Lucien Boudard có thể khẳng định dứt khoát: Người giết tướng Nguyễn Bình không ai khác là tướng Giáp. Theo lệnh của tướng Giáp, Nguyễn Bình đã bị chết.

Theo Philip B. Davidson, việc yêu cầu tướng Bình trở ra Bắc là một bản án tử hình và mọi người liên quan đều biết rõ điều đó. Giáp thừa biết Bình đang yếu nặng và có thể sẽ không sống nổi trong cuộc hành trình đầy gian khổ này. Lê Duẩn đã chọn hai sĩ quan chính trị đi theo Bình. (xin trích nguyên văn):

Le Duan’s commissars blew Binh’s brain out with a United States Army Colt.45. One of the Vietminh officer was captured by the Cambodians, and he told them that the body was that of Lt. Gen. Nguyen Binh, late Viet Minh commanders in chief in Cochi China. The Frenh officer cut off one of Binh’s hand and sent ir to Saigon, where the fingersprints were found to be those of Binh.

This death came to Nguyen Binh in feverish Cambodian jungle-alone, sick, betrayed- the price of failure in the world of Giap, Ho, and Le Duan.

Philip B. Davidson, Ibid, trang 82

Lucien Boudard, La guerre d’Indochine, trang 464



Cũng theo Lucien Boudard, việc thủ tiêu công khai tướng Nguyễn Bình sẻ gây xôn xao và bất nhẫn trong nội bộ quân đội của tướng Bình nên Giáp cần dàn cảnh ra một cuộc đi ra Bắc .. và tìm cách giết ông.

Trước khi Nguyễn Bình lên đường ra Bắc, Lê Duẩn đã đưa cho Nguyễn Bình một lá thư của tướng Giáp nội dung như sau:

- Đồng chí thân mến, đồng chí sẽ được một nhóm hộ tống gồm 30 người. Tôi giao công việc sống còn này cho đồng chí . Đồng chí sẽ sẽ đi ra Bắc xuyên qua các tỉnh ở Cam Bốt từ Kompong Cham, rồi đến Kratie1 và đ61n Strung Streng.

Lá thư chấm dứt ở đó, tại sao chỉ đến Strung Streng?

Nguyễn Bình biết chắc rằng mình sẽ bị giết trên tuyến đường này và mục đích của chuyến đi này. Giáp cũng biết rằng Nguyễn Bình biết mình có thể bị thủ tiêu trên đường đi. Nhưng Nguyễn Bính không có chọn lựa nào khác vẫn phải chấp nhận vì cao ngạo, vì kỷ luật đảng mà không thể phản bội.

Nguyễn Bình đã cẩn thận ghi lại từng chi tiết chuyến đi này coi như một bản chúc thư. Ông không ngu dại gì để không thấy đây là cái bẫy dẫn ông đến cái chết- một cánh rừng tuyệt đối hoang dại, không có đường tiếp tế, không có căn cứ quân sự của Việt Minh mà chỉ cần cứ để rừng già làm cái công việc của nó cũng đủ chết rồi.

Trong đám quân đi hộ tống, tất cả đều là người của Lê Duẩn chọn lựa. Tướng Bình tiếng là chef, nhưng có hai người ủy viên do Lê Duẩn chọn lựa mới thực sự là người chỉ huy. Sau hai tháng đi bộ thì tới gần biên giới Lào. Cái bản ghi nốt cuối cùng của tướng Nguyễn Bình ghi ngày 21 tháng 9, 1951 cho hay, họ nghỉ lại một nơi gần một bản Mọi. Sau khi liên lạc thì những người này hứa cung cấp gạo. Nhưng đợi cả ngày không có tin tức gì cho mãi đến trưa hôm sau.

Và đây rõ ràng là một cuộc ám toán có chủ đích. Những người Mọi gửi điện cho Sang Saroun cách xa đó chừng 50 kilo mét. Họ phải mất nhiều giờ mới tới nơi.

Biết có biến đám đi hộ tống tướng Nguyễn Bình đã bỏ chạy, nhưng trễ quá rồi. Tướng Bình bị thương không cử động được. Bất đồ có hai người mặc đồ đen nằm trong nhóm của tướng Bình thừa dịp này đã chĩa súng về phía ông và nổ cò.

Đây là hai sát thủ được chỉ định của Việt Minh. Họ đã nhận được chỉ thị nếu bị rơi vào tay quân Pháp thì phải thanh toán tướng Bình.

Và đó là diễn biến xảy ra thảm kịch mà tướng Giáp mong muốn, với bao nhiêu tính toán, cân nhắc và lựa chọn của ông.

Nguyễn Bình cuối cùng thật sự đã chết. Nhưng một tình cờ là tướng Chanson- một kẻ thù của tướng Bình cũng bị ám sát chết trong một lần kinh lý ở Sađéc trong một buổi lễ!!

Ở xứ Nam Kỳ này chết vì một cuộc ám sát là điều thường tình. Như thế tướng Bình và tướng Chanson, cả hai kẻ thú trong trận chiến 1950 đều bị khai trừ trong khoảng cách hai ba tuần.

Sau cái chết của Nguyễn Bình, lưc lượng Việt Minh của Lê Duẩn không còn gì nữa, đành ở ẩn vào bưng biền Đồng Tháp Mười.

Sự khác biệt cắt nghĩa được nay chiến tranh chuyển ra Bắc vì từ nay, Võ Nguyên Giáp được chi viện đầy đủ về quân sự và huấn luyện.. Chiến tranh du kích được thay thế bằng chiến tranh trận địa ..

Thử hỏi, đặt địa vị tướng Giáp vào tướng Bình, ông sẽ làm được gì hơn không, vì nguồn cung câp vũ khí rất hiếm hoi, thỉnh thoảng mới nhận được từ Vũng Rô.

Trước khi kết thúc bài biên khảo này, đôi giòng sau đây trích trong nhật ký của ông nói lên tất cả những điều ông cần phải nói trước khi chết.

Bác sĩ bi quan về tình trạng sức khỏe của tôi. Ông nói rằng tôi không thể đi xa được Tôi cần phải có vài tháng nghỉ ngơi dưỡng bệnh. Nếu đi, tôi sẽ ngã gục vì không có thuốc men, không có một y tá để săn sóc .. Tôi bước đi rất khó khăn, vậy mà tôi phải đi bộ hàng ngàn cây số trong rừng ngàn phần nguy hiểm chết người này. Nhưng làm thế nào, tôi có thể ở lại Nam Bộ chờ bình phục? Thật là nhục nhã nếu van xin để hoãn lại chuyến đi này! Và tôi sẽ trở thành một chướng ngại làm phiền mọi người. Mỗi một lúc, tôi sẽ phải xin những người bạn cuối cùng còn sót lại, vợ con họ săn sóc. Không, tôi không muốn điều đó. Tôi cũng không muốn ẩn náu ở trong gia đình tôi.

Không, tất cả những điều đó không thể được. Tôi quyết định đi mặc dầu thân xác tôi đau ốm nặng. Tôi nghĩ tới bổn phận của tôi. Tôi sẽ đi để uy tín của tôi không bị sứt mẻ nơi những người đã kính phục tôi. Nếu tôi ở lại. Họ sẽ nói rằng tôi che dấu bệnh tật và tôi không đủ can đảm vượt lên trên những tình cảm cá nhân của mình. Họ sẽ tố cáo tôi nặng tình cảm gia đình thay vì cách mạng. Vậy thì tôi phải đi. Tôi quyết định sẽ đi theo lộ trình đã được vạch ra; nhưng một vài bạn hiểu tôi, hiểu tình trạng bệnh hoạn của tôi đã không thể cầm được nước mắt.

Lucien Bodard, Ibid, trang 466



Trong một phần nhật ký khác, tướng Nguyễn Bình đã có ý tưởng muốn ra hàng Bảo Đại, nhưng lại nghĩ lại hành xử như thế thì thì là một phản bội- phản bội bạn bè- phản bội lại những kẻ đã hy sinh và những người còn sống và sẽ biến thành kẻ thù của tôi. Tôi đã ở bên phía họ, tôi dành ở lại.

Phần Hillaire du Berrier cũng cho rằng Tướng Bình đã chịu kiểm thảo một cách gay gắt, nhưng ba năm còn lại ở miền Nam là cơn ác mộng với ông ..Từng người một những người tay chân thân cận của ông bị bứng đi hết thay bằng những người khác cũa tổng bộ. Và cuối cùng năm 1951 ông nhận được lệnh của tổng bô Việt Minh phải lên đường ra Bắc. Trên đường đi, ông đã bị Pháp phục kích. Việc mượn bàn tay Pháp giết tướng Bình cũng là một phương pháp khai trừ hữu hiệu nhất.

Hillaire du Berrier, Ibid, trang 70



Phải nhận rằng cái chết của Nguyễn Bình là một cái chết hoàn hảo.

Nó vừa lòng cả hai phía. Người Pháp trả được những món nợ do tướng Bình gây ra cho những đồng đội của họ. Tổng bộ bằng lòng. VNG xoa tay vì kế hoạch khai trừ đạt mức độ hoàn hảo. Các người cộng sản Nam Bộ loại trừ được môt tên Bắc Kỳ khó chịu.

Và nếu người đọc tìm hiểu cho kỹ cái suy luận biện chứng cộng sản thì biện pháp khai trừ là một biện pháp thông thường ..

Chính bản thân VNG cũng từng lo ngại bị ám sát, thủ tiêu. Vị bác sĩ từng có trách nhiệm chăm lo sức khỏe cho VNG thú nhận một cách ngây thơ rằng không bao giờ đại tướng chịu uống thuốc mà không do chính tay ông đưa cho!!

Vì sao thế? Đại tướng sợ bị đầu độc.

Tác giả: Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt


 Nguyễn Bình - vị tướng giang hồ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Trung tướng Nguyễn Bình (1906 - 1951) là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, lãnh đạo quân dân Nam Bộ kháng chiến chống Pháp.

Hồi đó, nước nhà giành được độc lập mới 3 tuần lễ thì quân Pháp đã trở lại đánh chiếm Sài Gòn, lửa chiến tranh lan khắp Nam Bộ. Tháng 10-1945, Bác Hồ không chọn ai khác mà giao cho “Thủ lĩnh đệ tứ chiến khu Đông Triều” Nguyễn Bình miền đất lửa “thập bá tranh hùng” Nam Bộ của Tổ quốc. Ông thưa với Bác:

- Thưa Bác, được Bác tin cậy trao cho nhiệm vụ vô cùng lớn lao, vô cùng hiểm nguy và nặng nề, Nguyễn Bình xin bái mệnh, nhưng…

- Chú nhận nhiệm vụ rồi sao còn “nhưng”?

- Thưa Bác, một Nguyễn Bình giang hồ ngang dọc để làm việc nghĩa, một Nguyễn Bình Quốc dân đảng để cứu nước đã thất bại… Nguyễn Bình ly khai Quốc dân đảng bị kết tội phản đảng, họ trị tội bằng cách móc một mắt. Nguyễn Bình không chết, đã tìm đến con đường của “Ông Nguyễn yêu nước” – Nguyễn Ái Quốc – để cứu nước. Giờ đây được Bác tin cậy giao việc lớn cho cháu, nhưng cháu chưa phải là đảng viên cộng sản… (Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương).

Đúng là tính cách của Nguyễn Bình – Nguyễn Phương Thảo “giang hồ”: “Sống dưới ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, từ năm 16 tuổi đã tham gia phong trào cách mạng, bị bọn thực dân truy lùng, đã trốn vào tận Sài Gòn hoạt động và tham gia Quốc dân đảng yêu nước do Nguyễn Thái Học lãnh đạo năm 1928, lúc tròn 20 xuân và năm sau bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Trong lao tù đế quốc, được những người cộng sản giác ngộ, Nguyễn Bình từ bỏ đường lối Quốc dân đảng, tự nguyện đi theo đường lối cộng sản nên bị chúng trả thù móc mất một mắt. Năm 1935, ra tù, tiếp tục hoạt động, lại bị địch bắt. Tiếp tục hoạt động, lại bị bắt lần nữa, từ 1938 đến 1942. Từ năm 1943, Nguyễn Bình được Trung ương giao phụ trách mua sắm vũ khí cho cách mạng ở Hà Nội – Hải Phòng… Nhà sử học Trần Huy Liệu từng ở tù Côn Đảo, giác ngộ Nguyễn Bình, đã viết: “Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động…”. Tháng 3-1945, Nguyễn Bình “lãnh đạo tổ chức đánh cướp tàu địch ở Hạ Lý – Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch, chiếm thị xã Uông Bí; tháng 7-1945, tổ chức đánh chiếm, giải phóng thị xã Quảng Yên, là tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám…”. Nhà lão thành cách mạng Trần Cung, người tham gia lập chiến khu Đông Triều, viết: “Nguyễn Bình dẫn gần 100 nghĩa quân, tiến theo cờ đỏ, sao vàng trên đường 18, hướng tới Đông Triều. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác. Cánh tay phải mỗi người đeo một băng đỏ đính sao vàng. Riêng Nguyễn Bình gắn trên ngực miếng vải đỏ có chữ TCH – tức Tổng chỉ huy… Từ chiến khu Đông Triều, đồng chí đã chỉ huy lực lượng tiến công phối hợp với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức giành chính quyền ở thành phố Hải Phòng, Kiến An và Hải Dương; được Trung ương giao làm khu trưởng Khu duyên hải Bắc Bộ, đồng chí có công lao to lớn trong bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ…”.

Đúng là tính cách của Nguyễn Bình. Khi nghe Nguyễn Bình “bộc bạch”, Bác Hồ cười hiền từ, nhưng giọng đanh từng lời: “Đảng viên cộng sản ư? Tổ quốc trên hết! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục…”.

Tháng 10-1945, Nguyễn Bình vào Nam, đi theo ngả Tây Nguyên, tới thị xã Thủ Dầu Một, ở nhà ông giáo Chương. Sau đó, được ông Võ Bá Nhạc là con rể ông Chương nhường sở cao su Bến Vịnh mà chủ người Pháp giao cho ông quản lý để “anh Ba” lập tổng hành dinh. Chính ông Võ Bá Nhạc là Chánh Văn phòng cho anh Ba từ ngày đầu cho tới ngày anh hy sinh 29-9-1951 ở tuổi 43… Vào Nam mới hai năm, Nguyễn Bình đã thu phục được các tướng giang hồ như Bảy Viễn-Lê Văn Viễn, Mười Trí, Bá Dương, Tám Mạnh, Năm Hà… đem quân Bình Xuyên kết cánh vào Quân đội quốc gia Việt Nam, cùng chiến đấu chống Pháp xâm lược. Tết năm 1948, Bác Hồ ở Việt Bắc đã nhận được thư chúc Tết của Bảy Viễn, Mười Trí – Thủ lĩnh Bình Xuyên. Bác Hồ đã gửi thư cho Bảy Viễn, Mười Trí, hỏi thăm Bá Dương và cả gửi thư cho Nguyễn Bình – vừa được phong hàm Trung tướng trong đợt phong 12 tướng đầu tiên của quân đội ta. Trong thư, Bác có “gửi lời căn dặn chú: mọi việc phải rất cẩn thận bàn bạc với anh em Ủy ban kháng chiến hành chính và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta, mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên…”.

 Trung tướng Nguyễn Bình đang cưỡi ngựa

Xin nói rõ thêm, Bảy Viễn về sau đầu hàng Pháp, được phong thiếu tướng nhưng không cầm quân đánh lại Bộ đội Cụ Hồ, mà mở sơn tràng, khai thác gỗ. Bảy Viễn nói: “Vì nể tướng Nguyễn Bình và tao phục thì chỉ kính phục Cụ Hồ… Tao lỡ bước lần này là phụ tình với Cụ Hồ, thì Bảy Viễn này chỉ còn im lặng!”…

Để khách quan hơn, xin dẫn lời sử gia người Pháp chuyên về Đông Dương P. Sê-nút đã viết về “Nguyễn Bình – ông tướng một mắt”. Các sử gia người Pháp tặng Nguyễn Bình biệt danh “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” – Lưu Bá Thừa là tướng “độc nhãn long” nổi tiếng chuyên về tiến hành chiến tranh du kích của Quân giải phóng Trung Hoa. Sê-nút đã ngợi ca Nguyễn Bình là “Lưu Bá Thừa của Việt Nam”, đã ngã xuống cho Nam Bộ đứng lên: “Nguyễn Bình nhờ sức kiên trì đã thống nhất các lực lượng du kích ở miền Nam, sau này trở thành Nam Bộ. Ở miền Nam năm 1946, du kích đã tìm được một vị chỉ huy: Nguyễn Bình. Trước đó, các cơ quan tình báo Pháp tập trung chăm chú theo dõi các nhà hoạt động chính trị như Trần Văn Giàu – Chủ tịch lâm ủy hành chính Nam Bộ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và vài nhân vật nổi tiếng của Sài Gòn. Còn Nguyễn Bình tuy chỉ mang danh nghĩa phái viên quân sự nhưng lại là người toàn quyền tổ chức quân sự ở Nam Bộ. Về Nguyễn Bình, người Pháp không hề biết một chút gì. Ông ta đã sống gian khổ, gương mẫu và mạo hiểm như các nhà cách mạng Việt Nam… Hồ Chí Minh phái ông vào Nam tổ chức cuộc kháng chiến bằng cách tập hợp các phong trào quốc gia trong một mặt trận toàn quốc. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trong Nam lúc đó rất nhiều màu sắc chính trị, đảng phái và tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Hải Hồ (do Nhật tổ chức)… Nguyễn Bình tìm được giọng nói thích hợp với từng hạng người. Với tư sản Sài Gòn, ông đề cập tinh thần quốc gia. Với nông dân ông nói về chia ruộng đất các đại điền chủ cấp cho dân nghèo. Với thanh niên ông hô hào lòng dũng cảm vì nước quên mình… Nhưng ông cũng dùng cả hình phạt với những kẻ lợi dụng chiến tranh để làm giàu bằng cách hợp tác với Pháp… Tổng hành dinh của ông ở giữa Đồng Tháp Mười mà lại tiếp giáp cửa ngõ Sài Gòn, nhờ khéo ngụy trang mà không bị quân Pháp tìm thấy. Một bộ máy hành chính, kinh tế và quân sự cực kỳ phức tạp được thiết lập trên khắp Nam Bộ. Tất cả các làng và các phường hội trong thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều có cán bộ lãnh đạo nhân dân, thu thuế và thi hành các bản án dành cho bọn phản động…”.

Nhà báo E. A-nan-rát viết trong tạp chí Đông Dương – Đông Nam Á cũng hết lời ca ngợi tài năng của Nguyễn Bình, còn nhắc đến chi tiết cảm động về cuốn sổ nhật ký có bức thư viết cho vợ: “Ngày 29-9 (1951). Trong đêm, anh không ngủ được. Gạo đã hết, chỉ còn đủ một bữa. Anh không ăn hôm nay để dành cho các đồng chí bệnh. Và tất cả chuẩn bị lên đường…”. Đúng cái ngày ấy, Nguyễn Bình đã hy sinh tại một phum trên đất Cam-pu-chia bên dòng Xê-rê-pốc nên mãi 49 năm sau đồng đội và vợ con ông mới tìm được hài cốt, đón ông về Tổ quốc. Đảng, Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, một vị tướng – liệt sĩ “ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục”, “thực hiện xuất sắc nhiệm vụ Bác Hồ trao vì “Tổ quốc trên hết”.






Tình đồng chí

Tôi có dịp đàm đạo với một vị cao niên, quen nhau từ hồi ở bên trại tỵ nạn, mới đây gặp lại trong một tiệc cưới.  Ông nhận xét về thành phần đao búa tham gia kháng chiến năm 1945, kể lại những chuyện thật, xin giấu tên:

Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chúng tôi, dân giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật, nghĩ rằng đây là dịp đoái công chuộc tội. Hơn nữa, chúng tôi có người còn chút lương tri, muốn ngoi lên ánh sang làm người lương thiện và làm người yêu nước trong thời loạn. Đó cũng là tâm trạng các tướng cướp khét tiếng như Bẩy Viễn, Mười Trí, Thomas Phước (tướng cướp hào hoa nổi tiếng một thời ở Sài Gòn)... Đầu tiên, chúng tôi xin gia nhập tự vệ của Lâm Ủy Hành Chánh. Nhóm này chia làm hai phe: một phe lo bảo vệ an ninh cá nhân lâm ủy, còn một nhóm khác nhận mật lệnh thi hành các vụ giết người việt gian, phản động.... Tôi thuộc nhóm thứ hai. Qua mấy tháng nhúng tay vào máu, chúng tôi, có người tỉnh ngộ và đổi thái đô….. Một hôm, Trần Văn Giầu họp với chúng tôi và nói:

- Cách mạng nào mà không đổ máu.  Chúng ta hãy tiêu diệt bọn phản động, việt gian.. với bất cứ giá nào.  Những lời kết tội đó chỉ chung chung, không nói rõ tội trạng một aị Rồi cứ mỗi tối, chúng tôi lại nhận mật lệnh đi lung sục, bắt bớ, thủ tiêu nhiều nhân vật tên tuổi... mà Lâm Ủy có sẵn trong sổ bìa đen.

Một người trong nhóm chúng tôi thắc mắc:

- Tại sao độc lập rồi mà còn giết nhiều người tài đức, có uy tín?

Giàu trả lới:

- Cách mạng làm gì có đức? Ai làm cách mạng mà không giết người

 Trần Văn Giàu (1911 - 2010), ảnh trong hồ sơ nhà tù Côn Đảo

Từ trong tiềm thức chúng tôi, hận thù được khơi dậy, nhiều người say máu, muốn trả thù. Tuy nhiên, cũng có người chùn bước, không nỡ nhúng tay, nhưng cũng không dám cãi lê.nh. Chúng tôi lao vào công việc chém giết và được khuyến khích như nhiệm vụ cách mạng.  Mấy tháng sau, tôi tỉnh ngộ….. Kẻ còn chút lương tri như bọn tôi, tự động rã ngũ, về thành bảo vệ mạng sống một cách nhục nhã. Có người đâm lao thì phải theo lao.  Lại có người tiếp tục đánh đu với tinh, đùa giỡn với rắn độc, chỉ trong một thời gian ngắn, họ sinh nghề tử nghiệp.  Đó là trường hợp của Ba Nhỏ,  Hoàng Thọ, Giang Minh Lý... và ngay cả trung tướng Nguyễn Bình mà chúng tôi có viết trong bài cái chết của Nguyễn Bình. Còn lại những kẻ mù quáng, tiếp tục vay máu đồng bào, cuối cùng cũng bị hy sinh.

Họ chết không phải vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù mà chết vì dao găm, mã tấu của đồng chí họ như Tương Đân Vân, Dũ Đức, Sư Muôn...

Chúng tôi lần lượt kể lại vài trường hợp thương tâm ấỵ  Khi Pháp chiếm lại các công sở trong thành phố Sài Gòn đêm 22 rạng 23.9.1945. Ủy Ban Hành Chánh đã chạy thục mạng vô Chợ Đệm mấy hôm trước, bỏ lại bọn tự vệ, thanh niên xung phong như rắn mất đầu.  Võ khí thô sơ làm sao đương đầu với  quân Pháp khí giới tối tân. Từ chỗ ẩn náu an toàn, ủy ban ra lệnh tàn sát bất cứ người da trắng nào họ gặp. Ba Nhỏ, một đầu đảng cướp hoàn lương, chỉ huy một toán tự vệ thành, được lệnh ấỵ.  Nửa đêm 25.9.1945, Ba Nhỏ dẫn một đám lâu la, đột nhập cư xá Hérault (Hérault city) dành riêng cho gia đình Pháp kiều tại Tân Định, Phú Nhuận, tàn sát một số đàn bà trẻ con. Rồi họ bắt theo độ 50 người làm con tin, nhưng cũng giết nốt. Tổng số nạn nhân ngót nghét 200. Đó là thành tích vẻ vang, đầu tiên của Ủy Ban Kháng Chiến. Cuộc tàn sát gây phẫn nộ dư luận khắp nơi trong nước và cả bên Pháp. Nhiều quân lính Pháp nóng lòng vì thân nhân bị giết nên ra đường gặp ai đều bắn bừa bải để trả thù. Dư luận phẫn nộ kết án Việt Minh là bọn mọi rợ. Đồng minh mất cảm tình, quay sang ủng hộ quân Pháp. Mấy ngày kế tiếp, Ba Nhỏ, Tô Ký, Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn Lập... được lệnh lùng sục bắt bớ, chém giết man rơ.. Chỉ trong vòng một tháng, có hàng trăm nhân vật tên tuổi, người quốc gia yêu nước đều bị giết.

Cũng như lớp CS đàn anh, Ba Nhỏ xuất than từ băng du côn Bà Chiểu, Cầu Bông, Thị Nghè, bao năm cầm đầu dân đao búa, Ba Nhỏ thạo nghề chém giết. Được Lâm Ủy Hành Chánh trọng dụng, hắn làm việc cần mẫn.  Nạn nhân của hắn không một ai sống sót. Vậy mà khi Pháp xua quân chiếm lại Thủ Đức, Ba Nhỏ theo bộ đội kháng chiến rút ra trước tới Biên Hòa.  Biên Hòa thất thủ, bộ đội Ba Nhỏ rút về Bà Rịa, Long Thành, Để xoa dịu dư luận bất mãn nhắm vào Việt Minh, Nguyễn Bình được lệnh dàn dựng tội trạng để xử tử Ba Nhỏ làm gương vì tội vô kỷ luật.

Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, giặc Pháp thập thò trước cửa, tàu chiến xập xình trên sông Lòng Tảo hang ngày, mà Việt Minh ngụy tạo tội trạng Ba Nhỏ đã giết một người đàn bà mang 2 kg thịt tiếp tế vùng tạm chiếm, để tử hình đồng độị. Quý độc giả có thấy những sự vô lý ấy không.  Ai tạo ra cảnh thù trong giặc ngoài để kháng chiến yếu đi, mất hết sinh lực.

Khi Ba Nhỏ bị kêu án, Ba Dương và đồng đội giang hồ cũ, đều ký tên xin ân xá hoặc giảm án, nhưng Nguyễn Bình được lệnh phải hành quyết tức khắc. Ba Dương là lãnh tụ Bình Xuyên trước Bẩy Viễn. Quá uất ức vì biết mình bị làm con vật hy sinh, Ba Nhỏ liền giật cây súng nhỏ của đội hành quyết định tự sát, cho rõ khí phách một tay anh chị, nhưng toán hành quyết giật lại và bắn Ba Nhỏ chết liền tại chỗ.

Kiều Đắc Thắng là một tên du thủ du thực, từ miền Trung lưu lạc vào Nam trước năm 1945. Hắn làm đủ nghề, từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Kiều Đắc Thắng ăn cướp bị bắt giam vào khám ở Vũng Tàu.  Ở đây Thắng cùng một bạn đồng tù tên Năm Bé móc nối với một tên coi ngục để vượt ngục. Lúc đó đúng vào cơ hội Việt Minh cướp chính quyền, Thắng xin làm tự vệ.  Từ tiểu đội trưởng Quốc Gia Tự Vệ Cuộc, Kiều Đắc Thắng leo lên chức quyền giám đốc công an các tỉnh Miền Đông chỉ hơn 1 năm, nhờ khả năng bắt cóc và ám sát. Những ai bị Lâm Ủy Hành Chánh kết tội việt gian, phản động, Thắng hạ sát không gớm taỵ, danh sách nạn nhân của hắn dài xọc. Ông Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng ám sát tại quê nhà Búng (Lái Thiêu) tháng 10.1945. Về sau, thấy Thắng có quyền hành quá lớn, muốn qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn, nên Bình gởi Thắng ra gặp bác Hồ.  Có nguồn tin nói rằng Hồ Chí Minh cho hắn gặp, phủ dụ mấy câu theo công thức, rồi đổi tên hắn là Vũ Tùy Nhân để khỏi mang tiếng. Tuy nhiên, trên đường về Nam, Kiều Đắc Thắng chết một cách mờ ám.

Một nhân vật độc đáo khác cũng xuất thân từ giới giang hồ, đánh giặc rất gan lỳ, đó là Hoàng Thọ.  Hoàng Thọ là người Hải Phòng, cũng do lò đao búa đào tạo, lưu lạc vô Nam từ năm 1939. Thọ có thân hình cao lớn, khá điển trai, râu quai nón. Khá hơn những tên trước, Thọ từng làm thợ máy quấn dây điện. Khi Nhật đảo chánh Pháp, Thọ theo Nhật làm lính Hải quân, nên gọi là Thọ Mạch lô. Việt Minh cướp chính quyền mở ra cho Thọ một con đường mênh mông vì hợp khả năng. Khi Nguyễn Bình vào Nam, nghe tiếng Thọ, lại người cùng quê, nên Bình chọn bộ đội Thọ để bảo vệ cho mình. Một năm sau, bộ đội Hoàng Thọ bổ sung them nhiều chiến sĩ, đánh nhiều trận tiếng tăm lừng lẫỵ. Địa bàn hoạt động của Thọ là vùng Gò Dầu, Trảng Bàng, Tây Ninh. Tuân lệnh Việt Minh, Thọ từng gây nhiều tội ác đối với Cao Đàị Những người quen biết với Hoàng Thọ có kể lại rằng, mỗi lần phục kích, Thọ chọn hướng gần mé sông. Binh sĩ chỉ có tiến chứ không thể lùi.  Khi Nguyễn Bình chính quy hóa quân đội kháng chiến, bộ đội Hoàng Thọ trở thánh tiểu đoàn 303.  Đó là đơn vị chủ lực của quân khu 7. Bình gài một tên cộng sản (Kính) vào làm chính trị viên thì tiểu đoàn 303 bắt đầu chia rẽ nội bộ, suy yếu.  Có lần, Thọ bắt gặp một số bộ đội sinh hoạt riêng rẽ, bí mật, khi Thọ điểm danh, thì vắng mặt.  Lúc đó, tên Kính trị viên kính cố thuyết phục, rún ép, dụ dỗ Thọ vô đảng Cộng Sản.

Bất mãn Thọ bỏ đi, rồi cạo đầu để phản đốị lúc trở về, Thọ thấy vật dụng cá nhân đều bị lục soát, anh ta bực tức không dằn được:

- ĐM. Hoàng Thọ đi kháng chiến vì dân vì nước, đâu có ngờ ngày nay có đảng này đảng nọ.  Đem mà bắn cha cái đảng CS cho rồi!

Sau đó, Thọ bị kiểm điểm, phê bình và bản án tử hình bí mật đã định sẵn. Tháng sau, Nguyễn Bình giới thiệu Hoàng Thọ ra Bắc gặp bác Hồ. Biết rõ âm mưu của Việt Minh định giết mình, Hoàng Thọ đi vài chặng, rồi đổi ý quay lại, về Mỹ An mở quán lá bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp trong Đồng Tháp Mười làm sinh kế.  Hoàng Thọ có tiền, tiếp đãi bạn củ có dịp công tác đi ngang qua đó rất hậu, chẳng khác Mạnh Thường Quân.

Đầu năm 1950, văn phòng trung tướng Nguyễn Bình dời về Cá Lóc, quận Long Mỹ. Bị Tây phát giác, họ chuyển đến Ông Đèo, ấp Cầu Đúc, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Trong một đêm tối trời, Thọ bị bắt, đem đi hành quyết tại một địa điểm gần Cạnh Đền. Bọn sát nhân đập đầu Hoàng Thọ như đập đầu cá lóc. Trước khi chết, Thọ rống như bò và chửi rủa Việt Minh thậm tê.

Cùng thời gian đó, ông Giang Minh Lý bị giết rất dã man. Lý con nhà đại điền chủ bỏ theo kháng chiến, lập nhiều công trạng, làm chính trị viên một đại đội đóng ở Cần Thợ Lý bị rún ép đe dọa phải vào đảng CS, và phục tòng mệnh lệnh của ho.... Lý từ chối nên bị nghi ngờ, theo dõị Lý bất mãn ra mặt. Có lần Lý tụt quần, chỉ vào con c. và điểm mặt Hoàng Đưc Khương, chính ủy khu 9, nói:

- Tao sợ mày cái con c. tao nè!  Mấy hôm sau, Lý bị bắt đem hành quyết tạI Cạnh Đền. Chúng căng hai tay ông ra, rồi dùng dao găm đâm túi bụi vào mắt, vào tim.

Còn dưới đây là mọt vụ hành quyết tập thể các đồng chí của mình mà ông Dương Đình-Lôi có  thấy hoặc nghe kể lại trực tiếp: .. tất cả độ 20 người thuộc bộ chỉ huy, tham mưu và hậu cần, chính trị của tiểu đoàn 300 Dương Văn Đương, có cả Trương Văn Phụng và anh Tám Son... đều bị trói thúc ké, đem xuống bờ biển Đông Hòa, rồi chặt đầu hết. Trong số nạn nhân có Bẩy Nghiệp, nguyên chi đội trương chi đội 21 từ Bình Xuyên qua, phụ trách đảng vụ của trung đoàn và chị Hai Sương được hưởng ân huệ khi xử tử. Đó là dùng súng bắn vào đầu thay vì chặt đầu.  Về cái chết của chị Hai Sương.  Ông Dương Đình Lôi không chứng kiến, nhưng được nghe chính người hành quyết kể lại: tôi nghe anh Năm Triệu, đại đội trương cuộc hành quyết đó, về văn phòng trung ương báo cáo lại. Năm Triệu gốc lính Nhật, to lớn con, mang gươm dài chấm đất. Năm Triệu kể:

- Tao thấy con Sương rụng rời tay chân. Tới phiên nó, nó đi đái. Tới lúc nó đứng dậy sau bụi cây mua. Nó lột trần truồng dưới ánh trăng lờ mờ, làm tao trân trối nhìn nó chậm rãi đi trước miệng hố. Tao biết tội nó chỉ làm liên lạc đưa thơ về Saigon mà sao họ cũng giết đành đoạn.  Khi tới gần tao, nó nói:

- Anh Năm! Em muốn hiến cho anh rồi em chết.  Tao bàng hoàng định tha con nhỏ.

Nhưng thằng mắc dịch Bẩy Mầu đi tới (Bẩy Mầu cũng là đại đội trương, chồng chị Dưỡng, rể của ba Dương, bị Nguyễn Bình sai Từ Văn Ri ám sát ở Bến Tre). Thằng Mầu nó bảo:

- Bộ hổng mạnh dạn xuống gươm ha.  Để tao tặng cho em viên đạn.

Thế là kết liễu một đời hồng nhan bạc phận. Chị Sương là một người đẹp nhất của trung đoàn, con nhà giầu, học sinh ở Sài Gòn bỏ theo kháng chiến... để rước lấy cái chết thảm.

Những người bị chặt đầu, chôn, hoặc thả trôi sông Lòng Tảo hôm ấy tôi được biết gồm có:

- Hai Điều, trương ban quản trị, bị bắt ơ An Thành.

- Tám Son, trương văn phòng trung đoàn.

- Bẩy Nghiệp, tiểu đoàn trương, trương ban đảng vu..

- Năm Son, trương ban quân nhụ

- Bác sĩ Năm Ngà, trương bệnh xá trung đoàn.

- Chị Sương, một thiếu nữ xinh đẹp, thuộc ban quân báo trung đoàn.

- Chín Lá, trưởng đài vô tuyến điện... (Trích thư riêng của Dương Đình Lôi gởi cho tác giả).

Chắc độc giả miền Nam còn nhớ vụ Sư Muôn.  Sư Muôn là một nhà tu mang nhiều tai tiếng xấu, báo chí phanh phui những hành động lem nhem với phụ nữ. Lý lịch sư Muôn cũng ít người biết, nhưng nhắc tới Sư Muôn, những người lớn tuổi ở miền Tây không ai không nghe tiếng. Tôi may mắn được cụ Xuân Tước và một vị cao niên khác chỉ dẫn nhiều chi tiết. Hồi những năm từ 1936 đến 1939, sư Muôn có chùa ở quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Sát bên chùa có một cái am nhỏ. Những phụ nữ, những bà hiếm muộn, muốn cầu tự, thường tìm đến Sư Muôn để làm phép và nhiều người mãn nguyện. Nhờ vậy, tiếng của ông đồn rất xa.  Có người biết chuyện kể lại rằng, Sư Muôn cho đào một đường hầm từ phòng ngủ của sư trong chùa, ăn thông với cái am ấỵ Ban đêm Sư Muôn mò xuống trị bệnh hiếm muộn, vì những phụ nử đến cầu tự phải làm công quả trong chùa và tối đến ngủ tạ cái am đó. Sư Muôn tên thật là Nguyễn Kim Muôn, người ở Gia Định, trước làm công chức sở hỏa xa.  Lúc đó, ông có mướn căn phố tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà sau này). Ông xuất tiền và lạc quyên thêm để cất ngôi chùa Long Vân Tự tại đường Hàng Xanh, Thị Nghè, bây giờ Long Vân Tự vẫn còn. Trong khi tu, sư Muôn có nhiều chuyện bất chánh với phụ nữ, dư luận căm phẫn. Ông bỏ chùa xuống Giồng Riềng, Rạch Giá, tiếp tục lập chùa, lừa gạt những người đàn bà hiếm muộn, nhẹ da. Báo chí Sài Gòn phỉ báng ông thậm tê. Họ gọi chùa của ông là động tu dụ đạo. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Sư Muôn di chuyển ra Phú Quốc. Ông cũng lập chùa ở gần thị trấn Dương Đông. Đầu năm 1946, Pháp chiếm trọn các tỉnh miền Nam. Hết đất dung thân, bọn CS đầu não ở khu 9 gồm tỉnh ủy Nghiêm Cai Cơ, bí thư tỉnh ủy Dương Quang Đông (Năm Đông), Phan Trọng Tuệ, Lâm Ngọc Minh... phải bôn đào ra Phú Quốc. Sẵn thấy chùa Sư Muôn có cơm gạo do bá tánh dâng cúng, nên bọn này ghé ăn dầm nằm dề tại chùa Sư Muôn để ăn chực cơm của nhà chùa.  Để lợi dụng Sư Muôn, bọn CS này bèn phong cho ông làm Ủy viên xã hội bằng miệng. Năm 1948, CS bao vây chùa, bắt Sư Muôn đem giết ven mé rừng, giữa Dương Đông và Hàm Ninh.

Tác giả: Hứa Hoành


Kiều Đắc Thắng

Một vụ án khác được dư luận rất quan tâm là vụ xét xử Kiều Đắc Thắng, nguyên cán bộ từng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Thủ Dầu Một và giữ nhiều cương vị khác nhau. Năm 1947, Kiều Đắc Thắng là Giám đốc công binh xưởng quân giới khu 7. Trong quá trình công tác, bị cáo có nhiều lần vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng và quân đội. Đáng nói là Thắng rất cửa quyền, ngang nhiên dùng súng bắn chết cấp dưới một cách bừa bãi. Thắng có lối sống sa đọa, quan hệ bất chính với một nữ cán bộ có chồng. Sau đó, kẻ gian phu tiếp tục thực hiện âm mưu sát hại người chồng của tình nhân để tự do thỏa mãn dục vọng cá nhân. Do vậy, Kiều Đức Thắng bị khai trừ khỏi Đảng, đưa ra xét xử để giáo dục chung trong quân đội nhằm khôi phục niềm tin đối với nhân dân.

Trước vành móng ngựa, Kiều Đắc Thắng cúi đầu nhận tội. Với tính chất, mức độ phạm tội của Thắng, hội đồng xét xử tuyên mức án nghiêm khắc nhất là tử hình, cho thi hành án tại ấp 3, xã An Tây trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân. Dư luận cho rằng xử tử bị cáo Kiều Đức Thắng là đúng pháp luật, bảo vệ được công lý. Bản án còn có ý nghĩa khôi phục lại quân kỷ, trước đây vi phạm chỉ xử lý nhẹ cán bộ có chức vụ, xử lý nặng đối với quân lính, làm giảm lòng tin trong quân ngũ và trong các lực lượng kháng chiến khác. Hoạt động của Tòa án dưới sự lãnh đạo của Đại tướng Lê Đức Anh đã góp phần tích cực trong việc xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân, làm thất bại chính sách dùng người Việt đánh người Việt của thực dân xâm lược.

 Hoàng Thọ

Những năm loạn lạc, các phe phái nổi lên như loài thảo khấu. Tất cả đều lấy danh nghĩa chống Pháp, giành độc lập cho nước nhà. Họ chống Pháp, nhưng đồng thời cũng chống nhau. Thời đốn mạt, phe nào cũng tự cho mình là chính nghĩa. Ðến thằng ăn cướp giết người, cũng lấy tiếng vì dân làm cách mạng. Kẻ chân lấm tay bùn chẳng biết tin ai. Chân lý có một, mà nghĩa lý thì rối bung. Bọn có học bảo sách vở thánh hiền là khuôn vàng thước ngọc, rồi tự giải thích theo ý riêng của mình. Miệng lưỡi của bọn mọt sách thật đáng sợ. Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng hay. Trong cái đầu ti tiện của bọn này, chất xám chứa đầy những tế bào vị kỷ, lọc lừa, phản trắc. Những lời khoác lác không thấy gươm đao, nhưng lọt vào lỗ tai có sức tác hại rộng lớn. Ðám vô lại thì chữ nghĩa mù mờ, còn biết tranh biện làm sao? Với chút máu du côn cộng thêm tính khí liều mạng, họ muốn làm anh hùng ra tay nghĩa hiệp trừ gian diệt bạo. Họ càng làm nghĩa hiệp thì xã hội càng bất an. Họ thường qua lại trên chốn giang hồ, lấy câu "tứ hải giai huynh đệ" kết bè lập đảng, tự cho mình là hảo hán. Họ chứng tỏ lẽ phải bằng con dao cái búa, chủ trương giải quyết bất công xã hội bằng hành động. Dân đen có chút tiền của, ngày đêm nơm nớp lo sợ. Biết đâu là kẻ cướp, biết đâu là cách mạng? Hôm qua là tên lưu manh giết người giựt của. Hôm nay bỗng thay hình đổi dạng thành người cách mạng. Vàng thau lẫn lộn là câu nói văn hoa vô nghĩa. Thời đốn mạt kẻ tinh đời ẩn mật, không xuất đầu lộ diện. Còn lại những đồng chì thau thiết, thì những thứ này lại nằm trong hầm phân hố xí. Cái môi trường ghê tởm, vấy bẩn tất cả.

Lúc bấy giờ, Việt Minh nổi lên thu phục những tên côn đồ dao búa làm tay chân, trong đó có Hoàng Thọ. Thủ đoạn của Việt Minh là tuyên truyền mị dân, khủng bố, thủ tiêu. Giết người thủ tiêu là ngón nghề của Thọ.

Thọ là tay anh chị ở Hải Phòng trôi giạt vô Nam. Mặt mày bặm trợn như Trương Phi. Mắt xếch, càm bạnh, râu rậm tới mang tai. Thân hình vạm vỡ, cánh tay săn chắc, ngực vồng lên, ức mọc một chòm lông. Thọ xuất thân từ gia đình nghèo. Thuở thiếu thời có lúc phải nương vào cửa Phật kiếm ăn. Sư chùa thương thằng bé siêng năng lanh lợi, truyền cho võ nghệ với mục đích mai sau giúp đời. Năm mười bảy tuổi, Thọ cởi trần gánh nước, sư nhìn thấy lún phún chòm lông giữa ngực. Sư quay đi không nói gì. Từ đó, sư không truyền võ nữa, thuần dạy gõ mõ tụng kinh. Thọ chán, khăn gói ra đi. Sư chép miệng, "râu rìa lông ngực là tôi phản thần".

Thọ vào đời, xông xáo múa võ kiếm ăn. Trên chốn giang hồ, Thọ khét tiếng ra tay tàn độc. Một lần đối đầu với gã anh chị tên Luân Mặt Ngựa, thủ lãnh đầu gấu bến tàu Hải Phòng. Thọ hạ đo ván, và đánh gãy một chân đối thủ. Luân Mặt Ngựa nằm co quắp, cắn răng nén đau, giương mắt nhìn trừng trừng vào mặt Thọ. Thọ đứng quan sát một hồi, bỗng nói, "Ðịt mẹ! Dứt điểm luôn, không cho mày có cơ hội phục thù." Nói xong, Thọ bước đến, vươn hai ngón tay trỏ và giữa thọc sâu vào hai hố mắt của Luân Mặt Ngựa. Hai tròng mắt lòi ra, Thọ tóm tròng mắt ném xuống đất, lấy chân dày xéo lên nát bấy. Rồi Thọ đứng giạng chân, lôi dương vật ra đái vào mặt Luân Mặt Ngựa, trước sự chứng kiến của đám đàn em Luân Mặt Ngựa. Không thằng nào dám cử động nói năng. Gã thủ lãnh đầu gấu nằm quằn quại trong máu và nước đái. Thọ thản nhiên bỏ đi. Mấy ngày sau, Thọ quay lại bến tàu Hải Phòng và nghiễm nhiên trở thành thủ lãnh của bọn đầu gấu, thay thế Luân Mặt Ngựa.

Khi Nhật đảo chánh Pháp, tàu Nhật ra vô kiểm soát cảng Hải Phòng. Trước khí thế súng đạn của quân phiệt, Thọ mất địa bàn hoạt động. Bọn đàn em phân tán tứ phương, Thọ đầu quân ngay vào lính hải quân Nhật, được dạy nghề thợ điện. Ngày Nhật đầu hàng Ðồng Minh, rút khỏi Hải Phòng, Thọ không theo. Thọ quy tụ lại đám đàn em thất lạc, sống tiếp tục bằng nghề đâm chém. Giai đoạn này, Thọ có biệt danh Thọ Mạch Lô, để chỉ thời gian đi lính hải quân Nhật. Khi Việt Minh nổi lên cướp chính quyền, Thọ hùa theo đoàn quân Cứu Quốc. Từ đó, Thọ giạt vô Nam làm tay chân bộ hạ của tướng Nguyễn Bình.

Cả tỉnh Tây Ninh ai nghe danh Thọ cũng đều khiếp hãi. Vùng hoạt động của Thọ là Gò Dầu Hạ, Trãng Bàng. Mục tiêu của Thọ là chức sắc đạo Cao Ðài, và những kẻ làm việc cho Pháp. Người chết dưới tay Thọ không biết bao nhiêu mà kể. Hành tung của Thọ vô cùng bí mật. Thoắt hiện thoắt biến khó lường. Bóng đêm là thế giới của ma quỷ. Khi vầng dương chìm khuất, Thọ nương theo khí âm trở về. Bao giờ Thọ cũng xuất hiện lẫm liệt, hông trái súng ngắn, hông phải gươm dài. Trang bị theo kiểu cấp chỉ huy lính Nhật. Thọ xuất hiện là có đổ máu. Giết người không nháy mắt. Cắt cổ, đập đầu thả trôi sông. Cần thanh toán nhiều người cùng một lúc, Thọ cột thành bè ra tay một loạt là xong.

Khúc sông Vàm Cỏ Ðông chảy ngang qua hai huyện Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng là mồ chôn những nạn nhân của Việt Minh, và của bọn Pháp. Người dân sống theo hai bên bờ sông, cứ vài ngày lại thấy chà chổng nổi lên, trôi lềnh bềnh theo những cụm lục bình. Thời kỳ này, người ta gọi khúc sông này là khúc sông chà chổng. Nhìn dấu tích trên thi thể, người ta biết ngay là do Pháp, hay do Việt Minh sát hại. Pháp giết người bằng cách trói thúc ké nạn nhân, đưa ra cầu tàu Vên Vên bắn và hất xác xuống sông. Việt Minh không bao giờ phí đạn với những con mồi nằm sẵn trong tay. Họ cắt cổ, đập đầu.

Ngoài thủ đoạn ám sát thủ tiêu, Thọ còn có biệt tài đánh trận. Nổi tiếng gan lì, từng gây cho quân Pháp nhiều tổn thất lớn. Thọ được tướng Nguyễn Bình phong làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 303, quân khu 7. Ðể phô trương lực lượng, đêm tối trời Thọ cho quân di chuyển chung quanh làng. Quân đi cả đêm. Người ta tưởng đoàn quân đông đến hơn trung đoàn. Thật ra, chỉ là trò mị. Quân của Thọ tiếp nối nhau, đi theo vòng tròn kín. Một người có thể ngang qua một địa điểm mười lần. Như thế đoàn quân của Thọ được miệng đời nhân lên gấp mười. Ðó chỉ là một trong những tiểu xảo lừa mị dân đen của Việt Minh.

Thọ mê truyện Tàu, khoái nhân vật Hạng Vũ. Chủ trương quân cần tinh, không cần đông. Bắt chước Hạng Vũ hành quân thần tốc, dàn quân theo thế tử chiến. Phía trước là địch quân, phía sau là sông ngòi khó di chuyển. Ở vào cái thế không thể lui binh, buộc quân sĩ phải liều chết xông lên tìm đường sống. Trên trận mạc, Thọ tỏ ra tháo vát, can đảm phi thường. Thọ thường tổ chức phục kích đoàn quân xa tiếp vận của Pháp, thu được nhiều vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng. Nhiều lần được ghi công lớn. Trong đời, Thọ chỉ thất bại một lần duy nhất. Và lần ấy cũng là điềm báo vận mạt cho Thọ.

Theo chiến thuật cũ, Thọ đưa quân về Vên Vên Trà Võ phục kích đoàn xe tiếp vận của Pháp. Nửa đêm, quân của Thọ đào hầm độn thổ. Phía sau là sông Vàm Cỏ Ðông, phía trước là rừng cao su bạt ngàn chạy dài lên tận Cầu Khởi, nối tiếp với mật khu Bời Lời. Lúc mười giờ sáng, ba chiếc auto blindé mở đường vừa qua khỏi, thì chiếc xe đầu của đoàn tiếp vận trờ tới. Thọ chờ cho tất cả đoàn xe lọt trọn vào ổ phục kích, liền nổ súng khai hỏa. Quân của Thọ từ dưới đất trồi lên, giáo mác và súng "mút cà tông" xung phong ào ạt. Khí thế vô cùng dũng mãnh. Nhiều xe đâm đầu lật xuống mương hoặc bốc cháy. Thế trận đang nghiêng phần thắng về phía Thọ. Bỗng từ đâu trong rừng cao su, lính Lê Dương xuất hiện phản công mãnh liệt. Giáo mác và súng "mút cà tông" làm sao chống nổi vũ khí hiện đại của Pháp? Quân Thọ núng thế, không đường rút lui buộc phải cận chiến. Nhưng tình thế hỗn loạn mất rồi. Thọ không thể điều động chỉ huy. Mỗi người tả xung hữu đột chiến đấu theo cách riêng của mình, tìm đường tháo thân. Rút lui không được, tiến tới thì rừng cao su đã bị lính Lê Dương phong toả, chận bít lối về Bời Lời. Như con thú bị dí vào ngõ cụt, quân của Thọ vùng vẫy điên cuồng. Tiếng la hét lẩn trong tiếng sắt thép va chạm, và súng nổ vang trời. Những cây thịt đổ xuống. Lớp khác tràn lên, gục ngã. Trong hỗn loạn, không ai còn nhìn thấy Thọ đâu nữa.

Mưu mô xảo trí và nhanh như sói, Thọ thoát thân bằng cách nào không ai biết. Chuồn về tới mật khu Bời Lời, dưới tay Thọ chỉ còn hơn ba chục mạng. Gần một trăm hai mươi bỏ lại chiến trường.

Sau thất bại cay đắng này, Thọ nghi ngờ có gián điệp làm nội tuyến. Người bị Thọ chiếu tướng là Lê Minh Chiếu, tự Năm Chiếu. Năm Chiếu là tay chân bộ hạ của Nguyễn Bình, hoạt động nội thành. Chiếu vẫn thường về mật khu báo cáo và nhận chỉ thị. Thọ giận quá mất khôn, cho người phục kích bắt Chiếu trên đường về, đem đến một cái lều giữa rẫy bắp ven rừng.

Thọ mình trần ngồi trên chõng tre, dõng dạc hài tôi Chiếu.

Chiếu mặc đồ đen, khăn rằn quấn cổ, mặt không hề đổi sắc.

"Loạn rồi. Ông biết tôi là ai mà dám nói thế?"

"Mày là thằng chỉ điểm cho Tây."

Chiếu cười mỉa: "Ông chưa đủ tư cách nói câu đó."

Thọ gầm lên: "Tao đập đầu mày như đập đầu bọn chó săn phản bội."

Nói xong, Thọ ra lệnh trói Chiếu dẫn đi.

Chiếu ngoái lại, nói với những người trong lều: "Anh em có mặt, xin báo vụ này lên đồng chí Nguyễn Bình."

Thọ xô Chiếu chúi nhủi về phía trước: "Nguyễn Bình cũng không cứu nổi mày đâu."

Thọ dẫn Chiếu đến trước cái giếng lạn trong rừng, dùng khúc gỗ quật vào ót, đạp xác xuống giếng.

Khi Thọ trở lại lều, có người nói: "Năm Chiếu là đảng viên."

Thọ vung tay bất cần: "Ðảng cái đầu bùi tao."

***

Ít lâu sau. Thọ được gọi lên gặp Nguyễn Bình.

Bình hỏi: "Sao giết Năm Chiếu?"

Thọ nói: "Hắn làm gián điệp cho Tây."

Bình vỗ bàn: "Hồ đồ! Chiếu là người của đảng. Chú dám tự động ra tay, không cần chỉ thị cấp trên. Chú đang là đối tượng được đề nghị vào đảng, nhưng vô kỷ luật không còn xứng đáng nữa."

Thọ quen thói du côn coi trời bằng vung, không biết sợ là gì.

"Thọ này đi kháng chiến vì dân vì nước, không cần đảng. Ðảng chỉ là bọn bè phái bênh vực cho nhau."

Lời vừa ra khỏi miệng, Thọ biết đã lỡ.

Nguyễn Bình cười nhạt, đuổi Thọ ra ngoài chờ chỉ thị.

Thọ được chỉ thị ra Bắc nhận công tác mới.

Con sói tinh ranh biết trên đường đi có nhiều cạm bẫy. Thọ khôn ngoan biết người ta muốn đưa mình vô cửa tử, như Thọ đã bao lần đưa người khác vào chỗ chết. Thọ rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, trốn đi biệt tích.

***

Năm sau. Có người khách miền Bắc đến Mỹ An. Khách có thân hình cao lớn vãm vỡ, nói năng tự tin, hoạt bát sành đời. Khách dựng quán lá bên bờ kinh Nguyễn văn Tiếp làm kế sinh nhai. Người dân Ðồng Tháp Mười gọi khách là ông Bắc Kỳ.

Năm sau nữa. Có người khách lỡ độ đường xa, ghé quán lá ông Bắc kỳ xin trọ qua đêm.

Trời chiều. Nắng ráng mỡ gà đổ mênh mông trên những lá dừa nước điệp trùng dọc theo bờ kinh. Bên ly rượu nhạt, chủ khách nói chuyện ra chiều tương đắc.

Khách nhận xét: "Ông có cái phong thái của nhà sư Lỗ Trí Thâm."

Ông Bắc Kỳ cười lớn: "Tài thật! Mới gặp nhau mà đã nhìn ra chân tướng. Vâng, kẻ này có lúc ở chùa."

Khách hỏi: "Còn nhớ gì không?"

Ông Bắc Kỳ nói: "Vỏn vẹn một câu thần chú, Yết Ðế. Yết Ðế. Ba La Yết Ðế. Ba La Tăng Yết Ðế. Bồ Ðề Tát Bà Ha."

Khách nói: "Ngộ thì chớp mắt đáo bỉ ngạn. Mê thì cả đời chìm đắm. Ông toàn ăn thịt chó mắm riềng, qua sông sao khỏi?"

Ông Bắc Kỳ nói: " Lấy hình tướng để xét thực tướng, nhà Phật cho đó là cái lầm lớn của người đời."

Khách nói: "Thực giả, giả thực quyện vào nhau. Nhìn ra cái giả là biết cái thực."

Nửa khuya đêm ấy. Ông Bắc kỳ bị bắt đem đến Cạnh Ðền, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá.

Trong ánh sáng mập mờ của mảnh trăng non, khách nói nửa đùa nửa thật: "Năm Chiếu ở dưới suối vàng gởi lời thăm Hoàng Thọ, và nhắn xuống dưới chơi."

Ông Bắc Kỳ hỏi: "Mày là ai?"

Khách nói: "Tôi là bạn Năm Chiếu, được chỉ thị của đồng chí Nguyễn Bình, đi tìm Hoàng Thọ bấy lâu. Gặp ông Bắc Kỳ nhìn ra giả tướng, biết thực tướng là Hoàng Thọ."

Biết mình không sống được, Thọ chửi Nguyễn Bình, chửi đảng. Thọ bị đập đầu, và rống từng hồi như bò rống. Sau khi hành quyết, ông khách cho lệnh phá nát mặt Hoàng Thọ để đừng ai nhìn ra danh tính.

Ðó là năm 1950.

Lâm Chương

(trích đoạn truyện dài Cơn Lốc)

No comments:

Post a Comment