Vào năm 1960, xa lộ Biên Hòa được làm để nối liền Sài Gòn và khu kỹ nghệ Biên Hòa. Trước 1975, đường cao tốc được gọi là “xa lộ”. Ngày nay là đường Hà Nội nối liền Sài Gòn với khu công nghiệp.
Đồng thời vào đầu thập niên 1960, nhà máy nước Thủ Đức được làm. Toàn bộ ống cống của Sài Gòn cũng được thay bằng ống cống lớn hơn để thoát nước mưa mau hơn. Các đường ống dẫn nước đến các nhà cũng được thay cho lớn hơn vì nhà máy nước Thủ Đức có công suất lớn, nước chảy mạnh hơn. Đó là những xây dựng về hạ tầng cơ sở để biến Sài Gòn và Biên Hòa thành một khu vực công nghiệp. Đó là hạ tầng cơ sở dự trù cho 30 năm sắp tới với sự tính toán, ước lượng là 30 năm tới dân số sẽ gia tăng, các hoạt động kinh tế sẽ gia tăng.
Khu kỹ nghệ Biên Hòa là địa điểm đầu tiên. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa dự tính sẽ lập thêm khu kỹ nghệ ở Cần Thơ, Đà Nẵng. Đó là những nơi có đông dân có thể cung cấp công nhân cho khu kỹ nghệ.
Xa lộ Đại Hàn là xa lộ vòng đai đi vòng phía bên ngoài Sài Gòn để xe đi trên xa lộ không phải đi xuyên qua thành phố làm chậm tốc độ di chuyển.
Nhà máy thủy điện Đa Nhim và nhà máy nhiệt điện Thủ Đức công cấp điện cho khu kỹ nghệ Biên Hòa cùng với các tỉnh miền Nam.
Vào cuối thập niên 1960, miền Nam bắt đầu nuôi gà, heo theo lối công nghiệp . Có những trại nuôi heo, gà của tư nhân với hàng ngàn con.
Việc cơ giới hóa nông nghiệp bắt đầu với các máy cày tay của Nhật ở các miếng ruộng miền Nam. Ở các nước xã hội chủ nghĩa thì người ta phá bờ ruộng nói là để có ruộng lớn để dùng máy cày. Ở Nhật thì người ta làm máy cày nhỏ để vừa với các miếng ruộng nhỏ, không cần phải phá bờ ruộng để dùng máy cày. Dưới sông thì ghe gắn máy đuôi tôm không cần phải chèo. Ghe đánh cá gắn máy dầu cặn để đi đánh cá xa bờ.
Qua thập niên 1970, miền Nam thành lập các khu chế xuất. Khu chế xuất là nơi các công ty ngoại quốc chế tạo hàng hóa rồi xuất cảng hàng hóa luôn, không bị đánh thuế xuất nhập cảng. Khu này là để cung cấp công ăn việc làm cho người dân. Khu chế xuất Tân Thuận Đông đã được thành lập năm 1974 và đã có công ty sản xuất áo khoác có gắn nhãn hiệu cho thấy làm tại “South Vietnam” để định xuất cảng thì miền Nam bị mất.
20 năm sau, chế độ cộng sản tiếp tục xây dựng lại khu chế xuất Tân Thuận Đông mà thời Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện rồi bị ngưng.
Sau khi ký Hiệp Định Ba Lê năm 1973, có tin nói một số công ty Nhật dự định sẽ mở nhà máy ở miền Nam vì họ nghĩ là sẽ có hòa bình. Hãng xe Citroen của Pháp cũng tung ra kiểu xe La Dalat vì họ nghĩ rằng sẽ có hòa bình thì kinh tế sẽ phát triển, sẽ có nhiều nhu cầu dùng xe hơi, sẽ có nhiều người muốn mua xe hơi. Đồng thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dự định lập ra các khu chế xuất để các công ty các nước vào mở nhà máy. Nhưng đến 1975 thì tất cả mọi dự án của các công ty "tư bản bóc lột" đều dừng lại hết vì Cộng Sản Việt Nam theo Liên Xô không làm ăn với nước tư bản. Chỉ đến sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 thì Việt Nam mới đổi hướng cho tư bản vào đầu tư.
Nền kinh tế thị trường ở miền Nam bị cộng sản chận lại để rồi 20 năm sau, cộng sản cũng vẫn phải theo kinh tế thị trường, cũng lập các khu công nghiệp, khu chế xuất giống như thời Việt Nam Cộng Hòa.
Hình chụp một áo khoác ngoài có gắn nhãn “South Vietnam” được sản xuất ở khu chế xuất Tân Thuận Đông năm 1974 để xuất cảng. Nhưng chưa kịp xuất cảng thì qua 1975 thì miền Nam mất.


No comments:
Post a Comment