Khi còn trẻ, Peter Đại đế đã rất ghét một đại công quốc Muscovy kiểu trung cổ. Ông ghét cay ghét đắng văn hoá cổ xưa, cục bộ cùng nỗi sợ đầy tính mê tín dị đoan cũng như sự ngờ vực với phương Tây. Ông có trong mình khí chất của một nhà cách mạng vĩ đại, ông bác bỏ mọi truyền thống Chính thống giáo, ông bận trang phục của Châu Âu, cạo râu và dành nhiều thời gian lui tới khu phố Đức của thành phố Moscow là nơi mà dưới áp lực của Giáo hội, các ngoại nhân buộc phải sống chui lủi.
Ông tổ chức các tiệc rượu thâu đêm suốt sáng với đám hề cung đình, những người khổng lồ, người lùn và kỹ nữ hạng sang. Để giễu cợt Giáo hội, Peter gọi những cuộc cuồng hoan này là "Giáo Nghị Toàn Say" (All Drunken Synod). Trong số những bạn nhậu tin cẩn nhất của ông có hai viên quân nhân là Franz Lefort, một lính đánh thuê Thuỵ Sỹ phục vụ trong quân đội Nga từ thập niên 1670 và người còn lại là một người Scotland tên là Patrick Gordon, phụ trách Cục hậu cần trong quân đội Nga - người đã thuyết phục Peter về sự cần thiết phải hiện đại hoá quân đội Nga để theo kịp các nước Châu Âu.
Năm 1696, Peter cải trang chu du khắp vùng Bắc Âu để tận mắt chứng kiến những điều mà nước Nga cần để trở thành một cường quốc quân sự trên lục địa Châu Âu. Ông là Sa hoàng đầu tiên của Nga chu du ra nước ngoài.
![]() |
| Peter Đại Đế thăm xưởng đóng tàu ở Anh |
Tại Hà Lan, Peter Mikhailov (như tên ông tự gọi mình) làm việc trong vai trò thợ đóng tàu. Tại London, ông đến thăm đài thiên văn Greenwich, Kho quân khí Woolwich, Xưởng đúc tiền hoàng gia (the Royal Mint) và Hiệp hội Hoàng gia (the Royal Society). Tại Konigsberg (thành phố cảng trước đây thuộc Đức trước khi được trao trả cho Liên Xô vào cuối Thế chiến thứ 2), ông học về chuyên ngành pháo binh. Sau khi trở về Nga, năm 1698 Peter thành lập lực lượng hải quân cùng các trường quân sự và ngành công nghiệp mới.
Ông cũng xây dựng lục quân lại từ đầu. Ông thiết lập một hệ thống quân dịch có một không hai tại Châu Âu, trong đó cứ 20 hộ nông dân cứ mỗi năm lại phải cùng chịu trách nhiệm cung cấp một người lính phục vụ trọn đời trong quân đội. Con số này có thể nhiều hơn trong thời chiến. Làn sóng quân sự hoá ồ xã hội ồ ạt này đã tạo nên đội quân thường trực lớn nhất thế giới - khoảng 300 ngàn quân tại thời điểm Peter Đại đế qua đời năm 1725 và 2 triệu quân vào năm 1801. Không có bất cứ nhà nước nào có thể huy động được nhiều quân nhân như vậy!
Tuy nhiên, quy mô không phải là sự đảm bảo cho sự hiệu quả của quân đội. Một mô hình sớm trở nên phổ biến, đó là sự phụ thuộc của Nga vào số lượng bởi họ bị tụt hậu về chất lượng. Đó là cách duy nhất là Nga có thể bắt kịp các cường quốc phương Tây trong lĩnh vực quân sự - bằng cách chấp nhận nhiều tổn thất binh sĩ nhiều hơn so với các đối thủ tiên tiến hơn về mặt công nghệ. Điều đó lý giải vì sao Nga chịu nhiều thiệt hại về sinh mạng như vậy trong hai cuộc thế chiến .
Nếu muốn trở thành một cường quốc Châu Âu, Nga cần có đường tiến ra Biển Baltic. Bờ biển Baltic từ Phần Lan đến Livonia đã bị nhượng cho Thuỵ Điển năm 1617. Peter muốn lấy lại những vùng đất này. Ông cần đường thông ra những biển này để xuất sang Châu Âu những hàng hoá mà Nga có nguồn cung dồi dào (gỗ, hắc ín, ngũ cốc, gai dầu, da động vật, lông, và đá quý) để đổi lấy công nghệ quân sự. Việc chinh phục bờ biển Baltic cũng sẽ đem lại cho nước Nga một đường biên giới tự nhiên.
Được hậu thuẫn bởi liên minh với Ba Lan và Đan Mạch, Peter tuyên chiến với Thuỵ Điển và dẫn 40k quân tấn công pháo đài Narva năm 1700. Trong trận này, quân Nga đã thảm bại dưới tay quân Thuỵ Điển dưới sự chỉ huy của Vua Charles VII vốn chỉ có 9 ngàn người nhưng được huấn luyện và trang bị tốt hơn cũng như có pháo binh vượt trội. 1/4 lực lượng Nga bị tiêu diệt, số bị bắt làm tù binh còn nhiều hơn. Thất bại này đã dạy cho Peter hai bài học: thứ nhất, ông cần một lực lượng hải quân hiện đại để kiểm soát vùng duyên hải; và thứ hai, dù quân đội của ông có lớn đến đâu thì cũng ít cơ cơ hội trước quân đội Thuỵ Điển, lúc đó đang là một trong những quân đội thiện chiến nhất Châu Âu, trừ khi nó được tổ chức và trang bị ở một tiêu chuẩn tương đương.
![]() |
| Đại Chiến Phương Bắc - Trận Poltava |
Người Nga phát động cuộc tấn công lần hai năm 1701. Lần này cuộc chiến kéo dài tới 20 năm (về sau được gọi là Đại chiến Phương Bắc) đã đem lại chiến thắng quyết định cho người Nga.
Quân Nga từ thế phòng thủ với chiến thuật tiêu chổ kháng chiến đã dần chuyển sang phản công và đánh bại quân Thuỵ Điển, buộc họ phải ký Hiệp ước Nystad và nhượng cho Nga các miền đất vùng Baltic.
Chiến thắng trước Thuỵ Điển đã xác nhận vị thế của nước Nga là một cường quốc Châu Âu, được tất cả các vua chúa Châu Âu công nhận.
Để các nước Châu Âu phải vị nể sức mạnh cũng như sự văn minh của nước Nga, Peter đã cho xây dựng thành phố Saint Petersburg thành một kỳ quan hội tụ tất cả những tinh hoa không chỉ của Châu Âu mà còn của thế giới.
Peter Đại đế tham gia vào mọi chi tiết thành phố trong giai đoạn xây dựng ban đầu. Ông vay mượn tất cả những gì mình yêu thích từ các thành phố thủ đô khác của Châu Âu. Cả thành phố Amsterdam mà ông đã có dịp ghé thăm và thành phố Venice mà ông chỉ mới nhìn thấy qua các bức hoạ đều là cảm hứng cho những con kênh và bờ kè có đầy cung điện chạy dọc hai bên.
Hoạ tiết ba-rốc kinh điển của các nhà thờ tại Saint Petersbug là sự kết hợp đầy phong cách giữa nhà thờ St Paul tại London, nhà thờ St Peter tại Rome và các nhà thờ một tháp của thành Riga (Latvia).
Peter Đại đế chiêu mộ từ khắp Châu Âu các kiến trúc sư, kỹ sư, thợ thủ công, nhà thiết kế nội thất và các nhà làm vườn phong cảnh. St Peterburg trở thành nhà của người Scotland, người Đức, người Pháp, và người Italia.
Peter Đại đế không tiếc chi phí nào cho kinh đô kiểu mẫu của mình. Để làm cho Khu vườn mùa hè đẹp hơn cả Cung điện Versailles của Pháp, ông đã cho đem về hoa mẫu đơn và các loại cây cam, chanh từ Ba Tư, cá cảnh từ Trung Đông, và các loài chim quý từ Ấn Độ.
St Petersburg có ý nghĩa hơn cả một thành phố thủ đô. Nó là trường học Châu Âu của Nga, là đại dự án văn minh hoá, một cuộc cách mạng văn hoá nhằm tái kiến tạo người Nga thành công dân Châu Âu.
Mọi thứ ở St Petersburg đều được xây dựng với chủ đích khuyến khích một lối sống kiểu phương Tây. Peter chỉ cho các quý tộc của mình phải sống ở đâu, xây dựng lâu đài như thế nào, cho con đi học ra sao, ăn mặc và cư xử như thế nào, hay thậm chí cả cách ăn uống và giải trí trong một xã hội lịch sự. Một cuốn Sổ tay lễ nghi mang tên "Tấm gương danh dự của Tuổi trẻ", biên soạn từ các nguồn của phương Tây", được xuất bản năm 1717 để dạy người đọc không được nhổ đồ ăn, không được dùng dao để làm sạch răng, hoặc không được xỉ mũi to tiếng như thổi kèn trumpet
HẾT PHẦN 1
Nguồn: Dịch và tổng hợp từ cuốn “The story of Russia” của Orlando Figes.



No comments:
Post a Comment