Thứ nhất nói với thành phần bất hợp tác: chế độ Cộng Sản Việt Nam là một chế độ có tính chính thống bởi lẽ nó có hiến pháp, có luật pháp và bởi lẽ nó được Liên Hiệp Quốc nhìn nhận, nó là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nói tóm lại chế độ Cộng Sản Việt Nam là một chế độ có nền tảng pháp lý quy mô, một chế độ xứng đáng được toàn dân góp sức để dân chủ hóa.
Thứ hai, nói với thành phần chống đối: chế độ Cộng Sản Việt Nam là một chế độ có luật pháp. Mọi hành động chống đối nên diễn ra trong khuôn khổ luật pháp. Tôn trọng pháp luật là dấu hiệu cũa tri thức. Vi phạm luật pháp là cửa ngõ đi vào thế giới phi chính nghĩa.
Bằng hai luận cứ nêu trên, cán bộ tuyên truyền của Cộng Sản đều đề cao vai trò của luật pháp, lấy luật pháp làm chuẩn mực cho công việc đo lường tính chính thống của một chính quyền. Câu hỏi được đặt ra là: thế nào là bản thể, nhận thức và phương pháp luận của một hệ thống luật pháp? Có bao nhiêu hình thái luật pháp? Phải chăng tổ chức Liên Hiệp Quốc có năng lực ban phát tính chính thống cho guồng máy cầm quyền? Khảo sát các hệ thống luật pháp thông qua ba mặt: bản thể, nhận thức và phương pháp chúng ta có thể nhận ra hai chế độ luật pháp chủ yếu: chế độ pháp quyền và chế độ pháp trị.
A.- Chế độ Pháp Trị (Rule of Law)
1-) Bản thể của pháp trị: Ði tìm bản thể của pháp trị tức là đi tìm cội nguồn của luật pháp dưới chế độ pháp trị. Luật pháp là công cụ tổ chức và điều hành sinh hoạt của đất nước. Ðất nước là của toàn dân. Vì vậy toàn dân có quyền và có bổn phận làm ra luật pháp để tổ chức xã hội đất nước. Trong thực tế, toàn dân bầu ra quốc hội để có cơ chế này thay mặt người dân làm ra luật. Nói một cách ngắn và rõ ràng: Luật pháp phải từ nhân dân mà ra đời. Vì nhân dân mà vận động. Lấy nhân dân làm đối tượng tối cao để phục vụ.
2-) Nhận thức luận của pháp trị: Nhận thức về pháp trị tức là trình bày về mối tương quan giữa luật pháp với con người và giữa con người với con người dưới chế độ pháp trị. Muốn hoàn tất vai trò xây dựng và phát triển xã hội, luật pháp phải tạo lập tương quan hòa hài giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể và giữa dân tộc tính và nhân loại toàn tính. Ðể có được những quan hệ hòa hài như vừa kể luật pháp phải đứng trên tất cả cá nhân và đoàn thể, kể cả cơ quan công quyền các loại. Nói cách khác toàn dân (bao gồm cả giới lãnh đạo quốc gia) đều phải nằm dưới sự chi phối của luật pháp, phải tuân phục luật pháp . Không thể có bất kỳ mệnh lệnh nào có thể cao cấp hơn luật pháp.
3-) Phương pháp luận của pháp trị: bản thể luận và nhận thức luận của pháp trị như đã trình bày tổng quan ở trên có hệ quả đưa dẫn loài người tiến tới chế độ dân chủ đại nghị. Tư tưởng căn bản của dân chủ đại nghị là phổ thông đầu phiếu và sự phân nhiệm: Hành pháp, Lập pháp, và Tư pháp. Sau mỗi lần bầu cử, người dân giao khoán việc điều hành quốc gia cho quý vị dân cử.Với thời gian, chế độ đại nghị đã để lộ hai khó khăn. Một là tình trạng dẫm chân lên nhau giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Hai là trong nhiều trường hợp, dân chủ đại nghị biến thành dân chủ đa số chuyên chế. Nhằm giải trừ hai khó khăn vừa kể, tại ngưỡng cữa của thế kỷ 21, chế độ dân chủ đại nghị (Representative Democracy) đang chuyển mình thành chế độ dân chủ tham gia (Participatory Democracy). Dân chủ tham gia vẫn giữ nguyên cấu trúc của dân chủ đại nghị với sự tham gia đông đảo hơn tích cực hơn của quần chúng. Người dân tham gia vào việc nước bằng cách khuyến cáo hoặc gây sức ép đối với giới cầm quyền thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization: N.G.O), những đoàn thể hoạt động tôn giáo xã hội, giới truyền thông báo chí, ngành thăm dò dân ý (Poll). Cuộc biểu tình chống W.T.O. (World Trade Organization) tại Seattle (Washington) vào thời gian từ ll/03 đến 12/05/99 là chỉ dấu rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất của ước vọng Dân Chủ Tham Gia. Nói đến sự hình thành của chế độ dân chủ tham gia chúng ta cần ghi nhận thêm rằng: Khi một tập quán xã hội được pháp lý hóa tức là luật pháp đã ban cấp cho tập quán đó một định chế (Institution). Trong tương lai rất gần chế độ dân chủ tham gia sẽ được quốc gia liên hệ hoàn hảo hóa bằng những định chế chính trị (Political institution) cần thiết.
Nói tóm lại, chế độ pháp trị là chế độ hoàn hảo nhất. Hoàn hảo bởi lẽ luật pháp của chế độ này do dân mà ra đời, vì dân mà phục vụ. Hoàn hảo còn bởi lẽ chế độ pháp trị vừ chặt chẽ vừa uyển chuyển để có thể theo kịp những đổi thay trong đời sống của người dân. Sự thể chế độ dân chủ đại nghị đang chuyển mình thành chế độ dân chủ tham gia là một thí dụ cụ thể nhất nói lên tính chất uyển chuyển của chế độ pháp trị.
B - Chế độ Pháp Quyền (Rule by Law).
Chúng ta hảy khảo sát chế độ Cộng Sản Việt Nam như một chế độ pháp quyền tiêu biểu.
1) - Bản thể của pháp quyền: Ðất nước bị nằm gọn trong tay của một cá nhân và hoặc một tập đoàn độc tài .chế độ pháp quyền bao giờ cũng mạo nhận danh nghĩa nhân dân để chế tạo ra một hệ thống luật pháp nhằm bảo vệ giới thống trị và không chế quần chúng bị trị. Hành động mạo nhận danh nghĩa nhân dân một cách triệt để chính là sự đồng hóa nhà cầm quyền, đảng quyền với tổ quốc. Từ đó cưởng bách người dân phải bảo vệ giới thống trị ẩn nấp đàng sau tấm bình phong tổ quốc. Chúng ta hảy đọc điều 44 trong hiến pháp 1992 của Cộng Sản Việt Nam : Bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân... Tổ Quốc Việt Nam và Xã Hội Chủ Nghĩa (tức là đảng CSVN) đã bị Cộng Sản hòa nhập làm một. Từ đó Cộng Sản Việt Nam trở thành chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất nước. Luật pháp phải từ đảng Cộng Sản Việt Nam mà ra đời, lấy Cộng Sản Việt Nam làm đối tượng tối cao để phục vụ.
2-) Nhận thức luận của pháp quyền: Dưới chế độ pháp trị người dân bầu ra cấp lãnh đạo với nhiệm kỳ nhất định. Cấp lãnh đạo thực sự là công bộc của người dân. Họ phải làm việc theo mệnh lệnh của người dân thông qua lá phiếu. Dưới chế độ pháp quyền tương quan giữa giới lãnh đạo và người dân là tương quan thống trị và bị trị. Luật pháp do giới lãnh đạo tự ý qui định , vẽ vời, Vai trò lãnh đạo không do người dân bầu ra mà do sự việc một cá nhân và hoặc tập đoàn cướp chính quyền hay bầu cử gian dối. Ðiều 4 hiến pháp 1992 của Cộng Sản Việt Nam đã diễn tả đầy đủ nhận thức luận của pháp quyền Cộng Sản Việt Nam: Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Marx Lenine và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội: Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và luật pháp.
Hiến pháp và luật pháp được nêu ra ở cuối điều 4 hiển nhiên là sản phẩm luật pháp pháp quyền. Dưới chế độ pháp quyền đảng Cộng Sản Việt Nam ngồi lên trên luật pháp. Họ dành quyền tạo ra hoặc sửa đổi luật pháp ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thời gian nào mà họ tin rằng sự tạo ra hoặc sửa đổi đó có lợi cho đảng của họ. Tình trạng này đã là đầu mối của rất nhiều chia rẽ trong xã hội. Chia rẽ trầm trọng nhất là sự ngăn cách giữa đảng viên và quần chúng.
3-) Phương pháp luận của pháp quyền: Muốn lãnh đạo nhà nước và xã hội vô thời hạn theo kiểu nói của điều 4, đảng Cộng Sản Việt Nam phải nắm trọn quyền thống trị xã hội trong tay đảng. Sau đây là các điều khoản căn bản cửa hiến pháp 1992 giúp Cộng Sản Việt Nam thực hiện tham vọng lãnh đạo tự phong và vĩnh viễn của họ.
- Ðiều 9, khoản 4: là căn bản pháp lý cho phép Mặt Trận tổ Quốc (một tổ chức của đảng Cộng Sản Việt Nam) trở thành cơ quan duy nhất và toàn quyền có quyền tuyển chọn ứng cử viên cho những cuộc bầu cử quốc hội. Nói rõ hơn Quốc Hội của nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa là một sản phẩm do đảng Cộng Sản Việt Nam độc quyền nhào nặn ra.
- Ðiều 84, khoản 7: Quốc Hội Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bầu ra: Chủ Tịch Nước, Thủ tướng chính phủ, Chánh án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao... Quốc Hội của CSVN hiển nhiên là một nồi cháo thập cẩm trong đó có trong đó có đầy đủ hành pháp, lập pháp và tư pháp. Ông chủ của nồi cháo này không ai khác hơn là đảng Cộng Sản Việt Nam.
- Ðiểu 19: cho phép đảng Cộng Sản Việt Nam nắm trọn vẹn quyền lợi kinh tế của xã hội dưới tên gọi là kinh tế quốc doanh.
Như vậy hiến pháp 1992 rõ ràng là công cụ thâu tóm toàn bộ quyền lợi chính trị và kinh tế của quốc gia Việt Nam vào trong nhà kho riêng và mật của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðiều nghịch lý to lớn nhấ`t là hiến pháp 1992 không hề đá động đến tổng bí thư và bộ chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Phải chăng tổng bí thư và bộ chính trị bị Cộng Sản Việt Nam mặc nhiên đặt ra ngoài vòng luật pháp? Trong thực tế những người bị đặt ra ngoài vòng luật pháp như vừa kể lại là những người có thế lực lớn nhất, hưởng bổng lộc cao nhất. Mỗi chế độ độc tài là một nghịch lý lớn. Chế độ độc tài tồn tại nhờ kỷ thuật che dấu sự nghịch lý bằng những xảo thuật bịp bợm. Chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam đã để cho sự bịp bợm nằm lồ lộ ngay trên hiến pháp 1992. Ðó là chân ý nghĩa phương pháp luận của chế độ pháp quyền Cộng Sản Việt Nam.
Pháp trị (rule of law) khẳng định nhà cầm quyền phải hoàn toàn chịu sự điều hành của luật pháp: nhà cầm quyền của luật pháp. Ngược lại, pháp quyền (rule by law) là chế độ luật pháp do nhà cầm quyền sáng chế ra để bảo vệ guồng máy độc tài: luật pháp của nhà cầm quyền. Một nhà cầm quyền chỉ có được tính chính thống chừng nào nhà cầm quyền đó điều hành quốc gia trong khung cảnh pháp trị. Nhà cầm quyền pháp quyền kiểu Cộng Sản Việt Nam hiển nhiên không thể có tính chính thống. Mặc dầu vậy, một số người vẫn viện dẫn tư cách hội viên của Liên hiệp Quốc để minh chứng cho tính chính thống của Cộng Sản Việt Nam. Phương pháp viện dẫn này đã khiến chúng ta nghĩ đến luật pháp quốc tế. Như mọi người đã biết, luật pháp quốc tế chỉ là sự mô phỏng luật quốc gia nhưng thiếu hẳn những chế tài pháp lý cần thiết. Do đó bang giao quốc tế phải đặt trên nền tảng hiệp ước quốc tế và tập quán quốc tế. Thế nhưng, thông thường những hiệp ước kia, tập quán kia chỉ diễn ra theo chân lý của kẻ mạnh. Nói rõ hơn luật quốc tế là luật của kẻ mạnh , luật của tính áp đảo từ quyền lợi kinh tế , chính trị đối với ý thức về nhân quyền, nhân đạo. Thái độ im lặng của quốc tế trước biến cố 30/4/1975 tại Miền Nam là một xác nhận đau đớn về điều được gọi là giá trị của hiệp ước quốc tế, giá trị của luật quốc tế. Tự do dân chủ cho Việt Nam phải xuất phát từ tiếng nói của đường phố Việt Nam chứ không từ chiếc ghế hội viên của Liên Hiệp Quốc. Tính chính thống của guồng máy cầm quyền ở Việt Nam phải xuất phát từ những đấu tranh kiên cường của người dân, từ lá phiếu tự do dân chủ của người dân chứ không hề xuất phát từ những ngôn từ hoa mỹ tại Liên Hiệp Quốc. Bây giờ chúng ta hãy trở lại với ý nghĩa pháp lý nằm đàng sau chiếc ghế hội viên Liên Hiệp quốc: từ 1945 đến 1971 Liên Hiệp Quốc nhìn nhận Trung Hoa Quốc Gia (Ðài Loan) là đại diện chính thức của nước Trung Hoa. Thế rồi cuối năm 1971 Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã quyết định trục xuất Ðài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và mời Trung Cộng tiếp thu chiếc ghế của Ðài Loan trước kia. Sự thể vừa kể cho thấy chiếc ghế hội viên của Liên Hiệp Quốc chỉ là công cụ tạo thuận tiện cho bang giao quốc tế. Nó không hề là, không thể là chỉ dấu của sự ban cầp tính chính thống cho bất kỳ chế độ nào. Làm thế nào chỉ bằng chiếc ghế hội viên, Liên Hiệp quốc có khả năng biến chế độ pháp quyền độc tài Trung Quốc bổng nhiên trở thành chế độ dân chủ pháp trị, một chế độ có tính chính thống?
Vấn đề pháp trị và pháp quyền sở dĩ được đặt thành đề tài khảo sát là vì lý do được giải bày như sau: Con người có bản năng hướng thiện, khi một người hành động trái với công bằng và lẽ phải, người đó không nhiều thì ít tự nhiên cảm thấy không vui. Trạng thái cảm thấy vừa kể có tên gọi là lương tâm. Lương tâm lại được phân thành hai loại:
a-) Lương tâm làm người: Ðòi hỏi mỗi người phải tôn trọng mạng sống của người khác, phải hiếu thảo với cha mẹ, phải trung thành với vợ chồng, phải thương yêu con cái, phải giữ trọn đạo làm người.
b-) Lương tâm làm dân: Hối thúc mỗi người phải đóng thuế, phải thi hành quân dịch, phải tôn trọng luật đi đường, phải tuân hành luật pháp. Lương tâm làm dân thường xuyên bị giao động trước các câu hỏi : chế độ quân dịch có công bằng hay không? Có đẩy thanh niên đi vào cõi chết dưới bảng hiệu nghĩa vụ quốc tế hay không? Tiền thuế của dân có bị nhà cầm quyền biển thủ hay không? Luật pháp có chủ đích bảo vệ nhà cầm quyền hay bảo vệ người dân?
Trong thực tế hai loại lương tâm kể trên bị hòa nhập làm một, gọi chung là lương tâm. Trong hoàn cảnh hòa nhập đó những dấu hỏi đi kèm lương tâm làm dân đã bị mờ nhạt hoặc xóa tan. Lợi dụng tình trạng hòa nhập kia nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thường lớn tiếng tuyên truyền rằng: chỉ những kẻ bất lương mới vi phạm luật pháp. Người lương hảo phải là người trọng pháp. Trọng pháp là vấn đề của lương tâm. Cộng Sản Việt Nam hy vọng luận cứ tuyên truyền vừa kể có tác dụng thuyết phục mọi người tôn trọng luật pháp của Cộng Sản Việt Nam. Từ đó cuộc thống trị của ban lãnh đạo đảng Cộng Sản đối với người dân Việt Nam sẽ được tiếp tục kéo dài trong êm ả và bất tận. Thực ra không người nào có thể chối bỏ nghĩa vụ trọng pháp. Tuy nhiên câu hỏi được đạt ra là: pháp mà người dân cần phải trọng là pháp nào? Pháp trị của tự do dân chủ hay pháp quyền của độc tài tham ô? Người trọng pháp tích cực nhất, tri thức nhất chính là người phân định rõ ràng sự khác biệt giữa pháp trị và pháp quyền. Trọng pháp chỉ có nghĩa trọng pháp trị. Riêng đối với pháp quyền người trọng pháp chẳng những không trọng mà còn tìm đủ mọi phương cách để lật đổ nó, chôn vùi nó, mở đường cho chế độ pháp trị vươn mình tiến lên. Ðó là nội dung trong sáng của cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ trên địa bàn pháp lý vậy ./.
Ðỗ Thái Nhiên

No comments:
Post a Comment