Friday, September 4, 2026

Lý Do Khiến Philippines Chậm Công Nghiệp Hóa


Tại sao sự gia tăng dân số và đô thị hóa ở Philippines trong thế kỷ 20 lại không tạo ra một tầng lớp thương gia hùng mạnh và quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng như các nước châu Âu trong thế kỷ 17 và 18?

Sự tăng trưởng dân số và đô thị hóa ở Philippines và châu Âu thế kỷ 17-18 trông khá giống nhau trên biểu đồ, nhưng cơ chế kinh tế đằng sau chúng lại hoàn toàn trái ngược.

Ở châu Âu, đô thị hóa tạo ra công nghiệp hóa. Ở Philippines, đô thị hóa là kết quả của sự thất bại trong công nghiệp hóa.

 
Dưới đây là những khác biệt về cấu trúc:

1. Ai sở hữu phần của cải tích lũy được?


Châu Âu thế kỷ 17-18:

Nạn Dịch Hạch, Đạo luật Rào Chắn ở Anh và sự suy giảm của chế độ nông nô đã đẩy người dân ra khỏi đất đai, nhưng cũng tạo ra một tầng lớp người mới sở hữu vốn thay vì đất đai. Các thương gia giàu lên nhờ thương mại xuyên Đại Tây Dương đã tái đầu tư vào sản xuất - các nhà máy dệt, xưởng sắt, xưởng đóng tàu. Nhà nước bảo vệ họ bằng thuế quan, hải quân và luật bằng sáng chế.

Philippines thế kỷ 20:

Phần của cải thặng dư tích lũy được lọt vào tay tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai, chứ không phải tầng lớp thương gia. Dưới thời cai trị của Tây Ban Nha, những điền trang lớn được cấp cho Giáo hội và tầng lớp quý tộc lai. Dưới thời cai trị của Mỹ sau năm 1898, hệ thống đó không bị phá vỡ mà bị thương mại hóa. Các ông trùm đường, dừa và sợi abaca xuất khẩu nguyên liệu thô sang Mỹ mà không phải chịu thuế, và nhập khẩu hàng hóa sản xuất của Mỹ mà không phải chịu thuế.

Đó là một nền kinh tế khai thác thuộc địa điển hình: bạn không cần phải xây dựng nhà máy nếu bạn có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách xuất khẩu đường và nhập khẩu mọi thứ khác. Tầng lớp quý tộc không có động lực để trở thành nhà công nghiệp. Họ trở thành cái mà các nhà kinh tế gọi là tầng lớp comprador - những người trung gian cho hàng hóa nước ngoài, chứ không phải là nhà sản xuất.

Vì vậy, khi dân số tăng lên sau Thế chiến II - từ 19 triệu người năm 1948 lên 48 triệu người năm 1980 và 115 triệu người hiện nay - người dân rời bỏ nông thôn vì cải cách ruộng đất liên tục thất bại và tỷ lệ tá điền vẫn cao, chứ không phải vì các nhà máy đang gọi họ đến thành phố.

2. Người dân đã đi đâu?

Quá trình đô thị hóa ở châu Âu mang tính đa trung tâm và năng suất cao. London, Amsterdam, Manchester, Lyon, Hamburg - hàng chục thành phố mọc lên xung quanh than đá, sắt thép, sông ngòi và các cảng biển, vốn là những trung tâm công nghiệp. Các thành phố là những xưởng sản xuất.

Quá trình đô thị hóa ở Philippines lại tập trung vào các thành phố lớn và không mang tính sản xuất. Đến những năm 1970, khu vực đô thị Manila chiếm 30-35% GDP của cả nước và gần như toàn bộ ngành công nghiệp, nhưng phần lớn người di cư lại làm việc trong nền kinh tế dịch vụ phi chính thức - lái xe jeepney, người bán hàng ở chợ, công nhân xây dựng, người giúp việc nhà.

 

Xe Jeepney là xe chở khách ở thành phố Manila. Sau Thế Chiến Hai, Philippines có nhiều xe Jeep do Mỹ để lại nên người dân Philippines lấy xe Jeep đóng thùng dài phía sau để chở khách. Vì xe này chế từ xe Jeep nên gọi là Jeepney. Ngày nay, Philippines tự đóng xe chở khách mới nhưng vẫn gọi xe chở khách là xe Jeepney

 



Đây là điều mà các nhà kinh tế gọi là "đô thị hóa mà không công nghiệp hóa" hay "đô thị hóa quá mức". Người dân đổ xô về Manila không phải để làm việc trong các nhà máy, mà vì nghèo đói ở nông thôn đã đẩy họ ra khỏi đó và Manila lại có trường học, bệnh viện và tiền của chính phủ.

3. Thị trường thế giới đã thay đổi

Châu Âu công nghiệp hóa trong một thế giới không có cường quốc công nghiệp nào. Anh có thể bảo vệ ngành công nghiệp len của mình, đánh cắp công nghệ dệt may và buộc các thuộc địa phải mua hàng hóa của mình.

Philippines đã cố gắng công nghiệp hóa vào giữa thế kỷ 20 khi thế giới đã đầy rẫy các cường quốc công nghiệp. Sau khi giành độc lập năm 1946:

• 1946-1962: Thương mại tự do với Mỹ theo Đạo luật Thương mại Bell. Philippines không thể áp thuế quan đối với hàng hóa của Mỹ. Các nhà sản xuất trong nước không thể cạnh tranh.

• Những năm 1960-1970: Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (ISI). Marcos cố gắng xây dựng các nhà máy dựa trên thuế quan, nhưng các nhà máy này thực chất là các nhà máy lắp ráp - họ nhập khẩu máy móc, phụ tùng và dầu mỏ bằng đô la, lắp ráp chúng bằng lao động giá rẻ và bán cho một thị trường nội địa nhỏ. Họ cần đô la từ xuất khẩu nguyên liệu thô để tồn tại, vì vậy khi giá đường giảm mạnh vào những năm 1970, ngành công nghiệp đã sụp đổ.

• Không có sự chuyển giao công nghệ nào xảy ra vì các tập đoàn đa quốc gia giữ lại hoạt động sản xuất cốt lõi ở nước ngoài. Các thương gia châu Âu vào những năm 1700 đã phải tự phát minh ra công nghệ đó.

4. Không có cách mạng tư sản, không có một nhà nước tạo thuận lợi cho giới kinh doanh

Quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu đi kèm với một cuộc cách mạng chính trị, trong đó tầng lớp thương nhân giành quyền lực từ tầng lớp quý tộc:

Nội chiến Anh năm 1642, Cách mạng Vinh quang năm 1688, Cách mạng Pháp năm 1789. Họ đã tạo ra một nhà nước thực thi các hợp đồng, xây dựng đường sá và kênh đào, tiêu chuẩn hóa trọng lượng và tạo ra một thị trường quốc gia.

Tại Philippines:

1. Nhà nước thời thuộc địa của Mỹ được xây dựng để phục vụ nông nghiệp xuất khẩu, chứ không phải để xây dựng một nền tảng công nghiệp quốc gia.

2. Sau khi Philippines độc lập, các gia đình địa chủ vẫn kiểm soát Quốc hội, tòa án và ngân hàng. Họ sử dụng nhà nước để trục lợi - giấy phép nhập khẩu, nhượng quyền khai thác gỗ, độc quyền đường và dừa - chứ không phải cho chính sách công nghiệp. Phiên bản cực đoan nhất là chủ nghĩa tư bản thân hữu của Marcos. Tình trạng bè phái khiến cho một thiểu số có cơ hội kinh doanh làm giàu còn đa số vẫn nghèo.

3. Không có cải cách "Người Cày Có Ruộng" như ở Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Đài Loan sau Thế chiến II. Nếu không có điều đó, nông dân làm thuê không có ruộng thì vẫn nghèo, bạn sẽ không bao giờ tạo ra một thị trường tiêu dùng nội địa rộng lớn gồm những nông dân nhỏ có tiền để mua hàng hóa công nghiệp địa phương. Một công nhân mía đường ở Negros lương thấp thì không đủ tiền mua tủ lạnh. Người dân nghèo không tiêu thụ hàng hóa thì dù có người sản xuất thì nhà sản xuất cũng không bán được hàng.

5. Chảy máu vốn tiền và vốn nhân lực

Các thương gia châu Âu tái đầu tư lợi nhuận vào trong nước vì không còn nơi nào khác để đầu tư.

Giới tinh hoa Philippines thế kỷ 20:

• Gửi tiền sang Mỹ - hiện tượng chảy máu vốn. Thay vì giữ tiền trong nước để kinh doanh, mở nhà máy, doanh nghiệp để tạo ra của cải, công ăn việc làm thì đem tiền qua Mỹ cất dấu.

• Gửi con cái sang Mỹ.

• Giới trẻ khi tốt nghiệp ở các trường đại học Hoa Kỳ thường ở lại không về nước.

• Đầu tư vào bất động sản Manila, chứ không đem tiền ra kinh doanh, mở nhà máy.

• Sau này, "xuất khẩu" tốt nhất lại chính là xuất khẩu lao động - nền kinh tế lao động Philippines ở nước ngoài (OFW) bắt đầu từ những năm 1970. Hiện nay, 10% GDP đến từ kiều hối, thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu, chứ không phải đầu tư vào nhà máy. Vì thiếu nhà máy để tạo công ăn việc làm trong nước nên phải xuất khẩu lao động. Phần lớn phụ nữ Philippines ra nước ngoài làm y tá, làm công việc nhà, chăm sóc người già.

Tóm lại:

Châu Âu năm 1700: Nhiều người hơn -> Nhiều lao động hơn cho các xưởng sản xuất -> Thương nhân đầu tư lợi nhuận vào nhiều xưởng sản xuất hơn -> Nhiều việc làm hơn -> Đô thị hóa nhiều hơn. Một vòng tuần hoàn tích cực.

Philippines 1950-1990: Nhiều người hơn -> Cùng một lượng đất đai -> Nông trại nhỏ hơn -> Người dân rời đến Manila -> Không có nhà máy nào để tuyển dụng họ -> Nền kinh tế dịch vụ phi chính thức -> Kiều hối và nhập khẩu. Một cái bẫy dân số.

Những người có tiền nhiều ở Philippines không phải là các nhà tư bản mở nhà máy sản xuất mà là những chủ đồn điền, quặng mỏ hay là viên chức tham nhũng. Họ cấu kết với nhau để bảo vệ tài sản, quyền lực trong khi đa số dân thì nghèo không có bao nhiêu người có cơ hội làm giàu để mở nhà máy, hãng xưởng.

Vì tầng lớp có quyền không sống bằng kinh doanh, mở hãng xưởng nên môi trường xã hội không thuận lợi cho việc kinh doanh, mở hãng xưởng. Những người nắm quyền không quan tâm đến việc cải thiện môi trường xã hội cho kinh doanh vì không có lợi gì cho họ. Họ sống bằng đồn điền, quặng mỏ. Viên chức tham nhũng, luật lệ thiếu nghiêm minh. 

Môi trường xã hội không thuận lợi cho kinh doanh nên người có tiền đem tiền qua Mỹ cất dấu. Muốn đem ra kinh doanh trong nước thì cũng gặp nhiều trở ngại. Người kiếm được tiền nhờ tham nhũng hay đồn điền thì không biết mở hãng xưởng kinh doanh nên đem cất tiền bên Mỹ.

Những người trẻ đi Mỹ du học không muốn về vì về thì cũng không có việc làm. Môi trường xã hội không thuận lợi cho việc kinh doanh, mở nhà máy thì cũng không có hãng xưởng để thuê người đi du học về.

Philippines vẫn còn lối suy nghĩ của kinh tế nông nghiệp, sống bằng trồng trọt, khoáng sản, đánh cá. 

 

No comments:

Post a Comment