Liên Xô không chỉ đơn thuần thực hiện công nghiệp hóa. Họ đã công nghiệp hóa với tốc độ và quy mô chưa từng thấy trên thế giới. Quốc gia này đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai hành tinh, một siêu cường quân sự và là đối thủ về mặt tư tưởng của mọi nền dân chủ tư bản phương Tây.
Vậy, đây là câu hỏi đáng để mọi nhà kinh tế, mọi nhà hoạch định chính sách và bất kỳ ai quan tâm đến cơ chế vận hành của quyền lực phải trăn trở: Nếu Liên Xô đã xây dựng được tất cả những điều đó, nếu họ đã chuyển mình từ những chiếc cày gỗ sang tên lửa đạn đạo liên lục địa chỉ trong chưa đầy 40 năm, thì tại sao mọi thứ lại sụp đổ?
Tại sao gã khổng lồ công nghiệp, người khổng lồ hạt nhân, siêu cường từng khiến phương Tây phải run sợ này lại sụp đổ hoàn toàn đến mức vào năm 1991, chính người dân của họ lại phải xếp hàng dài chờ mua bánh mì?
Và quan trọng hơn, sự thất bại đó cho chúng ta biết điều gì về cách thức vận hành thực sự của các nền kinh tế? Đây là câu chuyện về tham vọng, sự tàn bạo, hệ tư tưởng và những vết nứt vô hình có thể hình thành bên trong bất kỳ hệ thống nào, bất kể vẻ ngoài có vẻ hùng mạnh đến đâu. Bởi lẽ, nền kinh tế Liên Xô không sụp đổ trong một khoảnh khắc đáng ngạc nhiên; nó đã mục ruỗng từ bên trong một cách chậm chạp qua nhiều thập niên, trong khi những người lãnh đạo ở Điện Kremlin vẫn tự trấn an rằng mọi thứ đều ổn thỏa.
Hãy quay lại thời điểm mọi chuyện bắt đầu. Đó là năm 1917, và nước Nga đang chìm trong biển lửa – cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Chiến tranh Thế giới thứ nhất đã vắt kiệt sức lực của Đế quốc Nga. Hàng triệu binh sĩ đã bỏ mạng nơi chiến hào băng giá. Nền kinh tế tan hoang. Tình trạng thiếu hụt bánh mì gây ra cảnh hỗn loạn tại các thành phố. Và vào tháng 10 năm đó, Vladimir Lenin cùng phe Bolshevik đã giành chính quyền trong cuộc cách mạng mà họ gọi là cuộc cách mạng của giai cấp công nhân.
Tuy nhiên, những gì họ tiếp quản lại là một thảm họa. Cuộc nội chiến Nga diễn ra sau đó kéo dài đến khoảng năm 1922. Và khi khói lửa chiến tranh dần tan, đất nước phải đối mặt với sự tàn phá kinh tế chưa từng có tiền lệ. Sản lượng công nghiệp sụt giảm nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 13% so với mức năm 1913. Sản xuất nông nghiệp giảm xuống còn khoảng 20% so với mức trước chiến tranh. Nạn đói càn quét khắp các vùng miền, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người. Trong thời gian nội chiến, Lenin đã áp dụng chính sách được gọi là "chủ nghĩa cộng sản thời chiến" – về cơ bản là việc cưỡng chế thu gom ngũ cốc từ nông dân và quốc hữu hóa toàn bộ ngành công nghiệp. Đây là biện pháp khẩn cấp giúp duy trì Hồng quân nhưng lại tàn phá nặng nề khu vực nông thôn.
Khi chiến tranh kết thúc, Lenin hiểu rằng mình cần phải thay đổi đường lối. Năm 1921, ông đưa ra Chính sách Kinh tế Mới (NEP) – một bước ngoặt đầy bất ngờ. Chính sách này cho phép các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ hoạt động, cho phép nông dân bán ngũ cốc dư thừa trên thị trường tự do và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Theo các chuẩn mực cộng sản thời bấy giờ, đây là một bước đi gần như đi ngược lại lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, nó đã mang lại hiệu quả. Nền kinh tế dần ổn định trở lại và sản xuất bắt đầu tăng trưởng. Các thành phố bắt đầu hồi sinh.
Nhưng Lenin qua đời vào năm 1924. Và người đàn ông sau đó vươn lên đỉnh cao quyền lực lại không chấp nhận những giải pháp nửa vời. Joseph Stalin là một người có tham vọng khủng khiếp cùng những phương thức hành động còn đáng sợ hơn thế. Khi nhìn vào vị thế của Liên Xô trên trường quốc tế, ông thấy một đất nước vẫn còn tụt hậu trầm trọng. Phương Tây tư bản chủ nghĩa đã đạt đến trình độ công nghiệp hóa, cơ giới hóa và điện khí hóa cao độ; trong khi đó, Liên Xô ở nhiều khía cạnh vẫn còn dậm chân tại chỗ ở thế kỷ 19. Stalin tin tưởng mãnh liệt, với một niềm tin ý thức hệ cháy bỏng, rằng nếu Liên Xô không bắt kịp trong vòng 10 năm, các cường quốc tư bản sẽ nghiền nát đất nước này. Stalin nói với những cán bộ thân cận của mình: “Chúng ta thua các nước Tây Phương một trăm năm, chúng ta sẽ bắt kịp họ trong vòng mười năm”
Năm 1928, Stalin khởi xướng kế hoạch 5 năm đầu tiên. Tiếp theo đó là chiến dịch công nghiệp hóa quy mô lớn và quyết liệt nhất trong lịch sử nhân loại. Quy mô của chiến dịch này gần như vượt quá khả năng hình dung của con người. Những thành phố hoàn toàn mới được dựng lên giữa vùng đất hoang vu băng giá.
Magnitogorsk—một thành phố thép nằm ở dãy núi Ural—được xây dựng từ con số không bắt đầu vào năm 1929, dựa trên mô hình của các thành phố Pittsburgh và Gary (tiểu bang Indiana, Mỹ). Hàng trăm kỹ sư nước ngoài, trong đó có nhiều người Mỹ, đã được trả lương cao, mời đến để giám sát quá trình xây dựng. Hàng chục nghìn công nhân—phần lớn là nông dân chưa từng biết đến nhà máy là gì—được huy động làm việc tại các lò cao, nhà máy thép và công trường xây dựng. Điều kiện làm việc vô cùng khắc nghiệt. Công nhân phải sống trong lều bạt và những túp lều đất giữa mùa đông giá rét khủng khiếp của vùng Ural. Tai nạn lao động xảy ra liên miên, nhưng dòng thép vẫn tuôn chảy và Magnitogorsk đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất thép lớn nhất thế giới. Và Magnitogorsk chỉ là một ví dụ điển hình; trên khắp cả nước, hàng loạt dự án khổng lồ đang đồng loạt được triển khai.
Đập thủy điện Dnieper—công trình lớn nhất thế giới vào thời điểm đó—được hoàn thành vào năm 1932. Các nhà máy sản xuất máy kéo được xây dựng tại Stalingrad và Chelyabinsk. Các nhà máy ô tô mọc lên ở Moscow, mô phỏng theo khu liên hợp River Rouge của Ford với sự hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp từ chính Công ty Ford Motor. Nhờ công ty Ford mở nhà máy ở Liên Xô mà Liên Xô học được lối sản xuất theo dây chuyền.
Những tuyến đường sắt mới được trải dài khắp vùng Siberia. Các mỏ than được khai thác. Các mỏ dầu được đưa vào vận hành. Lực lượng lao động công nghiệp đã tăng gần gấp ba, từ khoảng 4,6 triệu công nhân vào năm 1928 lên 12,6 triệu vào năm 1940.
Những con số này thật đáng kinh ngạc. Sản lượng than tăng 84% trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Sản lượng dầu tăng 90%. Sản lượng điện tăng vọt 168%. Sản lượng thép tăng 37%. Và tất cả những điều này diễn ra ngay trong những năm tháng mà cuộc Đại Suy thoái đang tàn phá thế giới tư bản. Trong khi các nhà máy ở Mỹ và châu Âu lần lượt đóng cửa, và tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ lên tới 25%, thì Liên Xô lại đang hối hả xây dựng. Đó là một món quà tuyên truyền mà Stalin đã triệt để tận dụng để cho thấy sự ưu việt của xã hội chủ nghĩa. Và thẳng thắn mà nói, thật khó để phủ nhận những gì đang hiển hiện trước mắt.
Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự chuyển đổi này lại vượt xa sức tưởng tượng của con người.
Để có kinh phí cho công cuộc công nghiệp hóa, Stalin cần phải huy động vốn từ nơi duy nhất đang nắm giữ nguồn lực này, ở các vùng nông thôn. Năm 1929, ông phát động công cuộc tập thể hóa, tức việc cưỡng chế sáp nhập hàng triệu trang trại nhỏ của nông dân thành các trang trại tập thể quy mô lớn do nhà nước kiểm soát, được gọi là Kolkhoz và Sovkhoz.
Nông dân đã chống đối, đôi khi bằng bạo lực. Để đáp trả, Stalin đã phát động một chiến dịch khủng bố nhắm vào bất kỳ ai bị gán mác "Gulak" (phú nông) – thực chất là bất kỳ người nông dân nào sở hữu nhiều đất đai hoặc gia súc hơn một chút so với hàng xóm của họ. Hàng triệu người đã bị đày đến các trại lao động khổ sai ở Siberia. Hàng triệu người khác thì bị sát hại. Và khi sự hỗn loạn của quá trình tập thể hóa ập đến cùng lúc với một vụ mùa thất bát vào năm 1932, hậu quả là một nạn đói khủng khiếp ở quy mô thảm họa.
Nạn đói Holodomor – theo cách gọi tại Ukraine – đã cướp đi sinh mạng của khoảng 3 đến 5 triệu người Ukraine. Trên toàn Liên bang Xô viết, số người chết vì nạn đói lên tới con số từ 5 đến 7 triệu người. Nông dân phải ăn vỏ cây, cỏ, da giày, hay bất cứ thứ gì họ tìm được. Tại một số khu vực, thậm chí còn ghi nhận các trường hợp ăn thịt người. Tất cả những điều này diễn ra trong khi chính quyền Liên Xô vẫn tiếp tục xuất khẩu ngũ cốc để lấy kinh phí mua sắm thiết bị công nghiệp từ nước ngoài. Những năm mà hàng triệu người chết đói ở Ukraine cũng là những năm Liên Xô xuất cảng nông sản tăng vọt. Vùng nông thôn đã bị vắt kiệt đến mức chết dần chết mòn để chi trả cho các nhà máy. Đây chính là nghịch lý cốt lõi trong quá trình công nghiệp hóa của Liên Xô.
Các nước Tây Phương và Nhật công nghiệp hóa với số vốn có được từ tích lũy hàng trăm năm buôn bán, xuất nhập cảng hàng hóa. Liên Xô công nghiệp hóa bằng số vốn lấy từ khu vực nông nghiệp, qua cách bắt nông dân phải ăn uống và sinh sống thiếu thốn.
Sự tăng trưởng là có thật. Các nhà máy là có thật. Thép, than đá và điện năng đều là những thứ có thật. Nhưng tất cả được xây dựng trên nền tảng của cái chết hàng loạt, lao động cưỡng bức và nỗi đau khổ của con người ở quy mô gần như không thể hình dung nổi.
Đường xe lửa xuyên Siberia được gọi là “đường xe lửa xương người”. Nó được làm bằng sức lực và sinh mạng của bao nhiêu tù nhân từ các trại tù Gulag phải làm việc trong khí hậu lạnh giá và ăn mặc thiếu thốn. Nông dân làm không đạt chỉ tiêu bị kết tội phá hoại sản xuất và đưa đi trại tù Gulag. Tại trại tù, họ bị đưa đi làm đường xe lửa với điều kiện khắc nghiệt hơn.
Liên bang Xô viết đang xây dựng một cường quốc công nghiệp, nhưng lại thực hiện điều đó bằng cách coi chính người dân của mình như nguồn nhiên liệu.
Tuy nhiên, đến cuối những năm 1930, sự chuyển mình này là điều không thể phủ nhận. Khi Liên bang Xô viết bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, quốc gia này đứng thứ năm trong số các nước công nghiệp. Đến khi kết thúc kế hoạch lần thứ hai vào năm 1937, nước này đã vươn lên vị trí thứ hai, chỉ sau Hoa Kỳ. Sản lượng thép đã tăng 200% trong giai đoạn kế hoạch thứ hai. Sản lượng điện cũng tăng 171%. Liên Xô lúc bấy giờ đã sở hữu năng lực công nghiệp để sản xuất các loại vũ khí, xe tăng, máy bay và pháo binh hiện đại với số lượng khổng lồ, và họ sắp sửa cần đến từng khí tài một trong số đó.
Khi Đức Quốc xã tấn công Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941, đó là chiến dịch quân sự quy mô lớn nhất trong lịch sử. Hơn 3 triệu binh sĩ Đức đã ồ ạt vượt qua biên giới. Cuộc tấn công mở màn diễn ra vô cùng khốc liệt. Hồng quân chịu những tổn thất nặng nề. Nhiều tập đoàn quân bị bao vây và tiêu diệt hoàn toàn. Đến cuối năm 1941, quân đội Đức (Wehrmacht) đã chiếm được những vùng lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô, bao gồm cả một số khu vực công nghiệp quan trọng bậc nhất đất nước.
Nhưng chính tại thời điểm này, chính sách công nghiệp hóa tàn khốc của Stalin đã mang lại kết quả quan trọng nhất – dù đầy đau thương. Trong một chiến dịch được coi là một trong những thành tựu hậu cần phi thường nhất thế kỷ 20, chính phủ Liên Xô đã tháo dỡ hơn 1.500 nhà máy ở miền Tây đất nước và vận chuyển từng bộ phận về phía Đông, vượt qua dãy Ural để thoát khỏi tầm với của quân Đức đang tiến tới. Công nhân, máy móc, nguyên vật liệu – tất cả đều được chất lên tàu hỏa và chuyển đến các địa điểm ở Siberia, Trung Á và vùng Ural. Chỉ trong vài tháng, qua năm 1942, các nhà máy được di dời này đã hoạt động trở lại, sản xuất xe tăng, súng đạn – những khí tài sau đó đã góp phần xoay chuyển cục diện cuộc chiến.
Magnitogorsk – thành phố được xây dựng từ con số không giữa vùng Ural băng giá – đã trở thành một trong những tài sản quan trọng nhất đối với toàn bộ nỗ lực chiến tranh. Thép từ thành phố này được dùng để chế tạo xe tăng T-34, loại vũ khí mà nhiều nhà sử học coi là quan trọng nhất trong Thế chiến thứ hai. Liên Xô đã sản xuất hơn 57.000 chiếc T-34 trong suốt cuộc chiến, con số vượt xa bất kỳ mẫu thiết kế xe tăng nào khác trong lịch sử. Họ làm được điều đó là nhờ nền tảng công nghiệp đã được xây dựng với cái giá vô cùng đắt đỏ trong thập niên 1930.
Bản thân cuộc chiến cũng gây ra sự tàn phá khủng khiếp. Liên Xô mất khoảng 27 triệu người, con số cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Các vùng lãnh thổ phía Tây bị tàn phá. Nhiều thành phố biến thành đống đổ nát. Cơ sở hạ tầng bị phá hủy hoàn toàn. Tuy nhiên, hạt nhân công nghiệp – tức các nhà máy nằm ở phía Đông dãy Ural – vẫn được bảo toàn. Chính từ nền tảng này, Liên Xô đã tái thiết đất nước một lần nữa với tốc độ phi thường.
Xét trên nhiều phương diện, thời kỳ hậu chiến là giai đoạn hoàng kim của nền kinh tế Liên Xô. Dưới thời Stalin và sau đó là người kế nhiệm Nikita Khrushchev, đất nước đã khôi phục cơ sở hạ tầng bị tàn phá và tiếp tục mở rộng công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng trong thập niên 1950 đạt mức ấn tượng, vào khoảng 5-6% mỗi năm theo ước tính của phương Tây, và thậm chí còn cao hơn, đến 16%, theo số liệu thống kê của Liên Xô (vốn thường có phần thổi phồng). Trong giai đoạn này, nền kinh tế Liên Xô tăng trưởng nhanh hơn so với Hoa Kỳ. Nhiều người quan sát – bao gồm cả những nhà phân tích đầy lo ngại tại Washington – đã cho rằng Liên Xô thực sự có thể bắt kịp Mỹ.
Năm 1957, Liên Xô phóng Sputnik – vệ tinh nhân tạo đầu tiên – gây chấn động mạnh mẽ khắp phương Tây. Năm 1961, Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ. Đây không chỉ đơn thuần là những thành tựu khoa học; chúng còn là minh chứng cho năng lực công nghiệp và công nghệ một năng lực cho thấy mô hình của Liên Xô đang phát huy hiệu quả.
Các nhà kinh tế phương Tây tại CIA ước tính rằng đến giữa thập niên 1950, GDP của Liên Xô đã tăng lên mức xấp xỉ một phần ba so với Mỹ. Đến năm 1965, con số này đã tiến gần đến mức một nửa. Sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng trưởng ở mức khoảng 10% mỗi năm trong thập niên 1950 và khoảng 7% trong thập niên 1960. Đây là những con số đầy ấn tượng, thậm chí khơi dậy nỗi lo ngại thực sự tại các thủ đô phương Tây.
Bản thân Khrushchev cũng tự tin vào đà phát triển này đến mức vào năm 1961, ông đã công khai tuyên bố rằng Liên Xô sẽ vượt qua Mỹ về sản lượng kinh tế vào năm 1980. Đó là một dự báo táo bạo. Khruschev tin tưởng là kinh tế Liên Xô sẽ qua mặt Mỹ nên đưa ra tư tưởng là Liên Xô không cần dùng vũ lực đánh bại các nươc Tây Phương mà sẽ làm cho kinh tế Liên Xô tiến vượt bực để thế giới nhìn thấy sự ưu việt của chủ nghĩa cộng sản rồi các nước sẽ đi theo chủ nghĩa cộng sản hết. Đó là đường lối “Sống Chung Hòa Bình” của Khrushchev. Một số người ở phương Tây thậm chí đã nghĩ rằng điều đó hoàn toàn có thể xảy ra.
Tuy nhiên, ẩn sau những con số thống kê đầy ấn tượng đó, những vấn đề bất ổn đã bắt đầu nảy sinh. Những vết rạn nứt đã hiện hữu nếu người ta biết cách quan sát. Và những người am hiểu nhất về nền kinh tế Liên Xô đã bắt đầu cảm thấy lo ngại. Vấn đề cốt lõi mang tính cơ cấu và đã tồn tại ngay trong hệ thống từ thuở sơ khai.
Nền kinh tế Liên Xô là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Mọi thứ, từ số lượng giày dép do một nhà máy sản xuất cho đến số lượng ổ bánh mì mà một lò bánh mì làm ra, đều do các nhà hoạch định trung ương tại Moscow quyết định. Không hề có cơ chế thị trường, tín hiệu giá cả hay sự cạnh tranh nào để thúc đẩy hiệu quả hoặc đổi mới sáng tạo. Toàn bộ hệ thống vận hành dựa trên các chỉ tiêu và hạn ngạch được giao từ cấp trên xuống. Và trong một thời gian, cách làm này đã phát huy tác dụng, ít nhất là theo nghĩa thô sơ nhất.
Khi xây dựng nền công nghiệp nặng cơ bản từ con số không, khi mục tiêu đơn thuần là sản xuất nhiều thép, than và bê tông hơn, thì nền kinh tế kế hoạch hóa có thể vận hành với sức mạnh và tốc độ đáng kinh ngạc. Người ta có thể tập trung mọi nguồn lực vào một mục tiêu duy nhất và đạt được những kết quả ấn tượng.
Đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch hóa là chúng rất hiệu quả trong việc thực hiện các công việc đơn giản ở quy mô lớn. Chẳng hạn như xây dựng một con đập, mở một mỏ than hay sản xuất một triệu tấn thép. Đó là những vấn đề trực diện, có thể được giải quyết bằng sức mạnh tổng lực và sự chỉ đạo tập trung từ trung ương.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế trở nên phức tạp hơn—với nhu cầu sản xuất không chỉ thép và than mà còn cả đồ điện tử tiêu dùng, máy tính, dược phẩm, thiết bị chính xác, thời trang, dịch vụ và các sản phẩm giải trí, thì các vấn đề cũng nảy sinh theo cấp số nhân. Một nhà hoạch định trung ương tại Moscow không thể nào biết được người tiêu dùng ở Vladivostok muốn bao nhiêu loại giày, cũng như màu sắc, kích cỡ hay kiểu dáng cụ thể ra sao. Vấn đề về thông tin trở nên quá tải.
Và còn một vấn đề sâu xa hơn nữa: cơ chế tạo động lực đã bị hỏng hóc về căn bản. Các giám đốc nhà máy bị đánh giá dựa trên việc liệu họ có hoàn thành chỉ tiêu sản xuất hay không, chứ không phải dựa trên việc họ có tạo ra sản phẩm hữu ích hay chất lượng tốt để người tiêu thụ ham thích mà mua. Vì vậy, họ đã học cách "lách luật" để đối phó với hệ thống. Nếu một nhà máy sản xuất đinh bị giao chỉ tiêu tính theo trọng lượng, họ sẽ sản xuất một số lượng ít những chiếc đinh khổng lồ nhưng vô dụng. Nếu chỉ tiêu được tính theo số lượng sản phẩm, họ sẽ sản xuất hàng triệu chiếc đinh tí hon—và cũng chẳng có tác dụng gì. Nếu một nhà máy thủy tinh được yêu cầu sản xuất một khối lượng nhất định thủy tinh tấm, họ sẽ làm ra những tấm kính dày một cách vô lý.
Các sản phẩm ra đời từ những nhà máy Liên Xô thường kém chất lượng, thiếu tính thực tiễn và không ai muốn dùng. Tuy nhiên, trên giấy tờ thì các chỉ tiêu vẫn được hoàn thành, và đó là điều duy nhất quan trọng đối với các quan chức ở Moscow. Đây không chỉ là một sự phiền toái; nó là một khối u ác tính gặm nhấm nền kinh tế từ bên trong. Bởi lẽ, các nguồn lực—từ nhân công, nguyên liệu thô, năng lượng cho đến vốn liếng—đều bị đổ dồn vào việc sản xuất những hàng hóa mà thực tế chẳng ai cần hay muốn có. Sự lãng phí là vô cùng to lớn. Và do không có cơ chế thị trường để điều chỉnh những sai lầm này—không có cơ chế phản hồi nào để trừng phạt các quyết định tồi và khen thưởng các quyết định đúng đắn—những sai lầm cứ thế tích tụ qua từng năm, từng thập niên.
Vào thời điểm Leonid Brezhnev lên nắm quyền năm 1964, động lực tăng trưởng đã bắt đầu suy yếu. Giai đoạn tiếp theo, kéo dài từ năm 1964 đến 1982, sau này được gọi là "thời kỳ trì trệ". Và cái tên này hoàn toàn có cơ sở: tốc độ tăng trưởng—vốn đạt mức 5-6% trong thập niên 1950—đã giảm xuống còn khoảng 3% vào đầu thập niên 1970 và xuống dưới 2% vào đầu thập niên 1980. Tăng trưởng năng suất – thước đo hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế – thực tế đã rơi vào mức âm trong nhiều năm suốt thập niên 1970. Nền kinh tế không chỉ suy giảm về hiệu quả mà còn thực sự thụt lùi.
Nông nghiệp là một thảm họa khác diễn ra âm ỉ nhưng dai dẳng. Bất chấp các khoản đầu tư khổng lồ, nền nông nghiệp Liên Xô vẫn kém hiệu quả triền miên trong suốt kỷ nguyên Brezhnev. Các nông trường tập thể liên tục rơi vào tình trạng sản xuất trì trệ, bị bủa vây bởi những vấn đề tồn tại dai dẳng kể từ khi chính sách tập thể hóa được áp dụng: quản lý yếu kém, thiếu cơ chế khuyến khích, và sự phi lý về mặt bản chất khi cố gắng điều hành sản xuất nông nghiệp từ các văn phòng hành chính ở Moscow.
Để gia tăng sản lượng, nhà nước cho phép mỗi hộ gia đình được có một mảnh đất riêng. Họ được hưởng tiền bán sản phẩm trồng được từ mảnh đất riêng đó. Các mảnh đất riêng chỉ chiếm khoảng 3% tổng diện tích đất nông nghiệp. Thế nhưng, những mảnh đất nhỏ bé này lại đóng góp tới khoảng 25–30% sản lượng lương thực của cả nước. Chỉ riêng con số thống kê đó đã nói lên tất cả về sự khác biệt giữa một hệ thống nơi người dân làm việc cho chính mình và một hệ thống nơi họ làm việc cho nhà nước.
Những vụ mùa thất bát trong thập niên 1970 đã buộc Liên Xô phải nhập khẩu một lượng ngũ cốc khổng lồ từ Hoa Kỳ và Canada. Một điều đáng xấu hổ đối với một quốc gia từng tuyên bố đang xây dựng một nền văn minh ưu việt. Thế nhưng, Breznev hầu như chẳng làm gì để giải quyết vấn đề này.
Đã có một nỗ lực cải cách ngắn ngủi vào giai đoạn đầu nhiệm kỳ của ông. Alexe Kosigin, đối thủ của Breznev trong Bộ Chính trị, đã đề xuất một loạt cải cách kinh tế vào năm 1965; các cải cách này nhằm trao quyền tự chủ lớn hơn cho các giám đốc nhà máy, cho phép áp dụng cơ chế giá cả thị trường ở một mức độ nhất định và đưa vào các cơ chế khuyến khích dựa trên lợi nhuận. Những cải cách này ban đầu cho thấy nhiều hứa hẹn, nhưng Breznev, một người về bản chất mang tư tưởng bảo thủ và là sản phẩm của chính hệ thống đó, đã để mặc cho bộ máy quan liêu âm thầm bóp nghẹt chúng. Đến cuối thập niên 1960, các cải cách này về cơ bản đã bị triệt tiêu hoàn toàn.
Điều khiến cho các cải cách ít làm cho sản xuất gia tăng là Liên Xô trung thành với sự bài bác lòng ham lợi nhuận. Óc ham lợi nhuận bị xem là phản động vì ai cũng ham lợi nhuận, ai cũng muốn làm giàu thì sẽ dẫn đến chế độ tư bản. Do đó, các xí nghiệp khuyến khích công nhân hăng hái làm việc bằng các tổ chức các cuộc thi đua, ai làm việc hăng hái sẽ được thưởng bằng khen, cờ thi đua, nhưng không thưởng tiền. Lúc đầu thì cách này có tác dụng nhưng về sau, việc thì công nhân không thấy hứng thú nữa. Theo lý thuyết thì khi đã xóa bỏ tư hữu thì công nhân sẽ làm việc hăng hái gấp bội vì họ không còn bị bóc lột thặng dư giá trị nữa. Do đó người ta cho rằng chỉ làm cho mọi người yêu mến xã hội chủ nghĩa mà hăng hái lao động chứ không dùng lợi nhuận, tư hữu mà khuyến khích.
Thứ thay thế cho cải cách lại là một điều nguy hiểm hơn nhiều: sự phụ thuộc ngày càng lớn vào dầu mỏ. Trong thập niên 1960, Liên Xô đã phát hiện ra những trữ lượng dầu khí khổng lồ tại Tây Siberia. Đến thập niên 1970, quốc gia này đã trở thành một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ OPEC năm 1973 khiến giá dầu toàn cầu tăng vọt, Liên Xô bỗng chốc ngập trong nguồn ngoại tệ mạnh. Tiền từ dầu mỏ đổ ào ạt vào ngân khố quốc gia. Đó là một món quà trời cho đối với một hệ thống đang chật vật tìm kiếm tăng trưởng bằng các phương thức khác. Tỷ trọng xuất khẩu dầu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Liên Xô đã tăng từ khoảng 15,6% vào năm 1970 lên mức đáng kinh ngạc là 46,9% vào năm 1980. Và chính tại đây, Liên Xô đã rơi vào cái bẫy mà các nhà kinh tế gọi là "căn bệnh Hà Lan" (Dutch disease). Khi một quốc gia thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ từ một mặt hàng duy nhất, nó có thể che đậy mọi vấn đề kinh tế tiềm ẩn bên dưới. Dòng tiền cứ thế chảy vào, khiến áp lực cải cách không còn nữa; không còn sự cấp bách phải sửa chữa các hệ thống trì trệ, cũng chẳng còn động lực để đổi mới sáng tạo.
Nguồn thu từ dầu mỏ cho phép Breznev và các thành viên cao tuổi trong Bộ Chính trị duy trì ảo tưởng rằng mọi thứ vẫn ổn thỏa. Họ có thể tiếp tục dùng tiền xuất khẩu dầu hỏa mà trợ cấp cho các nhà máy hoạt động kém hiệu quả, tiếp tục dùng tiền dầu hỏa để nhập khẩu ngũ cốc phương Tây để bù đắp cho nền nông nghiệp đang sa sút, và tiếp tục đổ tiền dầu hỏa vào quân sự, vào tất cả mà không cần phải đưa ra bất kỳ quyết định khó khăn nào.
Và khoản chi tiêu cho quân sự là vô cùng lớn. Đến đầu những năm 1980, các ước tính cho thấy Liên Xô đã chi từ 15 đến 17% tổng GDP cho quốc phòng, so với con số khoảng 6% của Hoa Kỳ. Cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ đã ngốn một phần khổng lồ nguồn lực của đất nước. Nó cũng hút cạn những bộ óc khoa học xuất sắc nhất, nguồn nguyên liệu tốt nhất và công nghệ tiên tiến nhất, tước đi những nguồn lực này khỏi nền kinh tế dân sự.
Tổ hợp công nghiệp-quân sự của Liên Xô có thể chế tạo tên lửa đạn đạo liên lục địa và tàu ngầm hạt nhân. Tuy nhiên, nền kinh tế tiêu dùng của nước này lại không thể sản xuất nổi một chiếc quần jeans tử tế hay một chiếc tivi hoạt động ổn định. Có một sự so sánh đầy ý nghĩa làm nổi bật sự phi lý của tình trạng mất cân bằng này. Quân đội Liên Xô có thể thiết kế và triển khai những loại vũ khí chống vệ tinh tinh vi nhất hành tinh, những hệ thống có khả năng theo dõi và tiêu diệt các vật thể di chuyển với tốc độ hàng nghìn dặm một giờ trên quỹ đạo thấp của Trái Đất. Thế nhưng, máy giặt do Liên Xô sản xuất lại hoạt động kém tin cậy đến mức phụ nữ tại các khu chung cư ở khắp Moscow và Leningrad vẫn phải giặt quần áo cho gia đình bằng tay mãi cho đến tận những năm 1980. Vào thập niên 1980, máy giặt ở các nước Tây Phương là tự động, bỏ quần áo vào vặn nút là máy tự động giặt, xả, cuối cùng là quần áo được vắt cho khô. Còn máy giặt Liên Xô vẫn là bán tự động, mỗi giai đoạn giặt, xả, vắt khô lại phải vặn nút.
Không phải là người Nga dở không biết chế tạo hàng dân dụng xe hơi, TV, máy giặt tốt mà vì lãnh đạo ở trên không rót vốn vào khu vực dân dụng nhiều, không quan tâm để việc cải tiến chất lượng hàng dân dụng. Khu vực quân sự thâu tóm mọi nhân tài kiệt xuất, nguyên liệu thượng hạng và các nghiên cứu tiên tiến nhất. Các viện nghiên cứu, các công ty quân sự chọn những người tốt nghiệp đại học điểm cao nhất. Mọi lĩnh vực khác chỉ nhận lại phần còn sót lại. Liên Xô chỉ chú tâm cải tiến khí giới sao cho qua mặt được Mỹ chứ không cần đuổi kịp Mỹ về xe hơi, TV, máy giặt.
Điều này tạo ra một nghịch lý kỳ quặc: Liên Xô vừa là một trong những cường quốc quân sự hùng mạnh nhất lịch sử, vừa sở hữu nền kinh tế tiêu dùng kém hiệu quả bậc nhất trong thế giới phát triển. Vào cuối kỷ nguyên Brezhnev, người dân Liên Xô phải xếp hàng hàng giờ liền chỉ để mua những nhu yếu phẩm cơ bản. Thịt, bơ, giày dép, quần áo, tất cả đều rơi vào tình trạng khan hiếm triền miên. Hàng khan hiếm vì ủy ban kế hoạch nhà nước phát ít vốn cho công ty nên số lượng hàng làm ra ít hơn nhu cầu của dân. Những người cầm quyền thấy dân thiếu hàng tiêu dùng không đáng sợ bằng thua Mỹ về mặt vũ khí. Thị trường đen phát triển mạnh vì hàng khan hiếm, còn tham nhũng thì tràn lan. Người dân Moscow thường đùa rằng: "Họ giả vờ trả lương cho chúng tôi, còn chúng tôi thì giả vờ làm việc."
Trong khi đó, giới lãnh đạo và tầng lớp tinh hoa của Đảng Cộng sản lại sống trong một thế giới đặc quyền với các cửa hàng riêng, hàng hóa nhập khẩu, những ngôi nhà nghỉ dưỡng ở vùng nông thôn và xe hơi có tài xế riêng. Khoảng cách giữa những lời lẽ của Đảng về sự bình đẳng và thực tế về các đặc quyền của chính họ đã trở nên không thể phớt lờ. Sự hoài nghi và vỡ mộng lan rộng trong xã hội Liên Xô như một loại độc dược ngấm ngầm.
Rồi đến tháng 12 năm 1979, Liên Xô đã đưa ra một quyết định mà sau này được xem là một trong những sai lầm thảm khốc nhất trong lịch sử của mình: cuộc đưa quân sang Afghanistan. Lý do được đưa ra là nhằm hậu thuẫn một chính quyền cộng sản thân thiện đang phải đối mặt với phong trào nổi dậy. Tuy nhiên, cuộc chiến nhanh chóng biến thành một vũng lầy sa lầy. Các chiến binh kháng chiến Afghanistan, lực lượng Mujahideen được Mỹ, Pakistan và Ả Rập Xê-út trang bị vũ khí và tài trợ, đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích khốc liệt mà quân đội Liên Xô không thể giành phần thắng. Cuộc chiến kéo dài gần một thập niên, gây thiệt hại cho nền kinh tế Liên Xô ước tính từ 2 đến 3 tỷ USD mỗi năm, làm cạn kiệt nguồn lực quân sự, gây suy giảm tinh thần người dân và vấp phải sự lên án của quốc tế.
Song, cú giáng chí mạng thực sự lại không đến từ những ngọn núi ở Afghanistan, mà đến từ thị trường dầu mỏ. Năm 1986, giá dầu toàn cầu sụp đổ. Giá mỗi thùng dầu thô lao dốc từ mức hơn 30 USD xuống còn chưa đầy 10 USD chỉ trong vòng vài tháng. Lý do là Ả Rập Xê Út bất ngờ gia tăng sản lượng dầu hỏa khiến giá dầu hỏa sụt xuống nhanh chóng.
Đối với Liên Xô, giá dầu sụt giảm đã gây ra hậu quả nghiêm trọng vì nền kinh tế Liên Xô trở nên phụ thuộc một cách nguy hiểm vào doanh thu từ dầu mỏ. Chỉ riêng năm 1986, đất nước đã mất khoảng 20 tỷ đô la doanh thu, tương đương khoảng 7,5% thu nhập hàng năm, và đã thâm hụt ngân sách.
Thời điểm này không thể tồi tệ hơn. Vào thời điểm đó, Tổng Bí thư Gorbachev đã lên nắm quyền. Ông lên nắm quyền vào tháng 3 năm 1985. Lúc ông lên năm 1985 thì Liên Xô không có vấn đề về ngân sách vì giá dầu còn cao. Qua năm 1986, giá dầu sụt giảm bất ngờ. Tiền xuất khẩu dầu hỏa giảm đi nên ngân sách thiếu hụt. Nhưng các ngành kinh tế khác không thể gia tăng sản xuất để bù vào chỗ thiếu hụt ngân sách.
Gorbachev đã nhìn thấy các con số. Ông hiểu rằng nền kinh tế đang trì trệ, gánh nặng quân sự là không bền vững, hệ thống nông nghiệp là một thảm họa, đất nước ngày càng tụt hậu so với phương Tây về công nghệ và mức sống. Ông gọi cuộc chiến ở Afghanistan là một vết thương đang rỉ máu. Ông biết rằng cần phải có sự thay đổi.
Và vì vậy, Gorbachev đã khởi xướng hai chương trình cải cách quan trọng nhất trong lịch sử Liên Xô, Perestroika và Glasnost.
Perestroika, có nghĩa là tái cấu trúc nền kinh tế, được cho là nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Liên Xô. Nó nhằm mục đích đưa vào một số cơ chế thị trường, cho tư nhân kinh doanh, giảm kế hoạch hóa tập trung và trao quyền tự quyết định hơn cho các doanh nghiệp.
Glasnost, có nghĩa là sự cởi mở về tư tưởng, được đưa ra để khuyến khích tính minh bạch chính trị, cho phép tranh luận công khai và phá vỡ nền văn hóa bí mật và dối trá ngột ngạt đã làm tê liệt hệ thống.
Ý định thì tốt. Nhưng việc thực hiện gặp khó khăn. Perestroika đã cố gắng cải cách nền kinh tế chỉ huy mà không thay thế nó. Gorbachev gặp phải nhiều đảng viên không chấp nhận cho tư nhân kinh doanh. Khi Gorbachev nói chuyện cho tư nhân kinh doanh với ông Andrei Gromyko, một cán bộ cao cấp từng làm bộ trưởng ngoại giao 28 năm, thì ông Gromyko phản đối. Các cán bộ các cấp từ trên xuống dưới phản đối Perestroika vì họ cho rằng cho tư nhân kinh doanh là đi theo tư bản, nghĩa là cuối cùng tư bản sẽ thắng. Vì thế chính sách cho tư nhân kinh doanh đem lại kết quả ở Việt Nam, Trung Quốc nhưng không làm nhúc nhích được kinh tế Liên Xô. Lại thêm, cho tư nhân kinh doanh thì phải cắt bỏ các bộ phận quốc doanh . Giảm bớt khu vực quốc doanh thì phải thải người. Không ai muốn đổi mới để bị mất việc .
Vì thấy cán bộ, đảng viên không chấp nhận ý tưởng mới nên Gorbachev đề ra Glasnost để cởi trói tư tưởng, để mọi người bỏ lối suy nghĩ theo lối cũ.
Sau này, năm 1992, Anatoly Chubai nhân dịp quốc hội Nga nghỉ hè, tung ra lệnh tư hữu hóa các công ty, bỏ kinh tế bao cấp. Nhưng Nga thiếu một cơ sở hạ tầng thị trường hoạt động hiệu quả, thiếu quyền sở hữu rõ ràng, thiếu khung pháp lý cho doanh nghiệp tư nhân, kết quả là hỗn loạn. Hệ thống kế hoạch cũ sụp đổ, nhưng không có gì thay thế nó. Các giám đốc nhà máy trước đây tuân theo mệnh lệnh từ Moscow giờ được yêu cầu tự tìm khách hàng và tự định giá. Nhưng họ không có kinh nghiệm làm việc đó. Không có chuỗi cung ứng, không có bản năng cạnh tranh. Sản lượng giảm, tình trạng thiếu hàng trầm trọng hơn, lạm phát tăng nhanh. Nhưng nếu Anatoly Chubai muốn chuyển đổi một cách từ từ bằng thay đổi luật lệ, cơ chế trước thì cũng không làm được vì các dân biểu quốc hội, cũng là các đảng viên, chống lại sự đổi mới.
Trong khi đó, Glasnost đã mở ra cánh cửa cho sự chỉ trích công khai. Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, công dân Liên Xô có thể công khai thảo luận về những thất bại của hệ thống. Các tờ báo đăng tải những bài vạch trần tham nhũng. Các chương trình truyền hình phát sóng các cuộc tranh luận về các vấn đề của đất nước. Và điều mà người dân nói một cách áp đảo là hệ thống đã đổ vỡ, rằng Đảng Cộng sản đã lừa dối họ trong nhiều thập kỷ, và họ muốn thay đổi. Ở một số nước cộng hòa, thông điệp thậm chí còn cực đoan hơn: chúng tôi muốn thoát khỏi nó.
Đây là điều mà Gorbachev không lường trước được. Ông muốn cải cách Liên Xô, chứ không phải phá hủy nó. Ông muốn làm cho chủ nghĩa xã hội hoạt động tốt hơn, chứ không phải từ bỏ nó. Nhưng một khi người dân được tự do ngôn luận, họ không chỉ chỉ trích các chi tiết. Họ bác bỏ toàn bộ tiền đề. Và ở các nước cộng hòa không thuộc Nga, ở các nước Baltic, ở Ukraine, ở Caucasus, ở Trung Á, cuộc tranh luận nhanh chóng chuyển từ cải cách kinh tế sang độc lập dân tộc.
Thảm họa Chernobyl năm 1986, mà Gorbachev ban đầu cố gắng che đậy, đã phá vỡ bất kỳ niềm tin nào còn sót lại của công chúng vào năng lực và sự trung thực của chính phủ Liên Xô. Vụ nổ tại nhà máy điện hạt nhân ở miền bắc Ukraine đã phát tán lượng phóng xạ nhiều hơn cả hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki cộng lại. Phản ứng ban đầu của chính phủ là phủ nhận, giảm thiểu và trì hoãn việc sơ tán. Khi sự thật được phơi bày, nó đã xác nhận điều mà nhiều công dân Liên Xô đã nghi ngờ, rằng chính phủ sẵn sàng hy sinh mạng sống của họ để bảo vệ hình ảnh của chính mình.
Đến năm 1989, con đập đã hoàn toàn vỡ. Khắp Đông Âu, các quốc gia vệ tinh của Liên Xô đang giành độc lập. Ba Lan bầu ra một chính phủ phi cộng sản. Hungary mở cửa biên giới với Áo. Bức tường Berlin sụp đổ vào tháng 11. Romania lật đổ nhà độc tài trong một cuộc cách mạng bạo lực. Đế chế bên ngoài của Liên Xô, vùng đệm được tạo ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã tan rã chỉ trong vài tháng. Bên trong Liên Xô, nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng.
Đến năm 1990, chế độ phân phối nhu yếu phẩm, cũng được gọi là lối bao cấp, được áp dụng lần đầu tiên kể từ thời Stalin không còn hoạt động hữu hiệu nữa. Các kệ hàng trống rỗng. Đồng rúp mất giá nghiêm trọng. Nợ nước ngoài đã tăng vọt từ khoảng 30 tỷ đô la năm 1986 lên hơn 50 tỷ đô la vào năm 1989. Chính phủ về cơ bản đã phá sản.
Tháng 8 năm 1991, một nhóm quan chức cứng rắn của Đảng Cộng sản đã phát động một cuộc đảo chính chống lại Gorbachev, nhằm đảo ngược các cải cách của ông và cứu vãn nhà nước Xô Viết. Cuộc đảo chính thất bại phần lớn là do Boris Yeltson, tổng thống Cộng hòa Nga, đã tập hợp phe đối lập và quân đội từ chối nổ súng vào chính người dân của mình. Đồng thời nhiều người dân khi thấy có đảo chính họ sợ là nếu phe đảo chính thắng thì mọi thứ sẽ trở lại như thời trước nên họ ùa ra đường biểu tình để cản trở phe đảo chính, vây các xe tăng của quân đảo chính. Cuộc đảo chính thất bại đã đạt được điều ngược lại với những gì những người tổ chức nó dự định. Nó đã phá hủy bất kỳ tính chính danh nào còn lại của Đảng Cộng sản.
Từng nước cộng hòa thuộc Liên Xô tuyên bố độc lập. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Gorbachev từ chức. Lá cờ Liên Xô được hạ xuống trên Điện Kremlin lần cuối cùng. Liên Xô, quốc gia từng kiểm soát một vùng đất trải dài 11 múi giờ và sở hữu kho vũ khí hạt nhân có khả năng vốn có khả năng hủy diệt hành tinh nhiều lần, đã không còn tồn tại nữa.
Vậy điều gì thực sự đã giết chết nền kinh tế Liên Xô? Người ta rất dễ sa vào việc chỉ ra một nguyên nhân duy nhất. Sự sụp đổ của giá dầu, cuộc chạy đua vũ trang, chiến tranh Afghanistan, thảm họa Chernobyl, các cuộc cải cách của Gorbachev – tất cả đều đóng một vai trò nhất định. Nhưng sự thật sâu xa hơn là hệ thống kinh tế Liên Xô đã chứa đựng mầm mống tự hủy diệt ngay từ khi mới hình thành. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà Stalin xây dựng được tối ưu hóa cho một mục tiêu duy nhất: công nghiệp hóa thần tốc bằng sức mạnh cưỡng chế. Và xét về khía cạnh đó, nó thực sự ấn tượng. Chưa từng có quốc gia nào trong lịch sử công nghiệp hóa nhanh chóng đến vậy.
Tuy nhiên, chính những đặc điểm giúp hệ thống này hiệu quả trong việc xây dựng các nhà máy thép lại khiến nó trở nên tồi tệ trong mọi lĩnh vực khác. Việc thiếu vắng thị trường đồng nghĩa với việc không có tín hiệu giá cả để phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả. Sự thiếu vắng cạnh tranh đồng nghĩa với việc không có áp lực phải đổi mới. Việc thiếu vắng quyền lựa chọn của người tiêu dùng đồng nghĩa với việc không có cơ chế phản hồi để cho nhà sản xuất biết người dân thực sự cần gì. Và nạn tham nhũng tràn lan cùng sự cứng nhắc của bộ máy quan liêu khiến các vấn đề bị che giấu thay vì được giải quyết.
Còn một khía cạnh khác của vấn đề này ít được nhắc đến, đó là vấn đề thông tin. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả mang theo một lượng thông tin khổng lồ. Giá lúa mì cho ta biết thông tin về cung và cầu đối với mặt hàng này. Giá đồng phản ánh tình hình hoạt động công nghiệp. Hàng triệu mức giá riêng lẻ biến động liên tục tạo nên một hệ thống thông tin phân tán với độ phức tạp và sức mạnh phi thường. Không một cá nhân nào có thể hiểu thấu đáo hệ thống đó. Không một ủy ban nào thiết kế ra nó. Nó hình thành từ hàng tỷ quyết định được đưa ra mỗi ngày bởi người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà đầu tư và các doanh nhân.
Hệ thống Liên Xô đã cố gắng thay thế toàn bộ hệ thống thông tin phân tán này bằng một ủy ban các nhà hoạch định tại Moscow, những người làm việc với bút chì, giấy tờ và sau này là các máy tính đời đầu. Họ cố gắng giải quyết một bài toán với hàng triệu biến số và hoàn toàn bất lực trước độ phức tạp đó.
Hậu quả là tình trạng phân bổ sai lệch nguồn lực diễn ra liên miên, thiếu hụt hàng hóa triền miên và khoảng cách công nghệ ngày càng nới rộng khi phương Tây bứt phá với máy tính cá nhân, chất bán dẫn và những bước sơ khai của Internet. Hệ thống này chỉ hoạt động hiệu quả khi các vấn đề còn đơn giản: xây dựng nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn và khai thác nhiều hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế trưởng thành và những lợi ích dễ dàng thu được từ việc dồn nguồn lực vào công nghiệp nặng dần cạn kiệt, hệ thống này đã rơi vào bế tắc. Các nhà kinh tế gọi đây là quá trình chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu. Tăng trưởng theo chiều rộng nghĩa là phát triển bằng cách gia tăng các yếu tố đầu vào: thêm nhân công, thêm nhà máy, thêm nguyên liệu thô. Tăng trưởng theo chiều sâu nghĩa là phát triển nhờ sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có, thông qua đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng cũng như phát triển các sản phẩm và công nghệ mới.
Hệ thống Xô viết tỏ ra xuất sắc trong mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, nhưng lại thiếu khả năng nội tại để thực hiện tăng trưởng theo chiều sâu. Và đó chính là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế Liên Xô. Không phải do một cú sốc hay cuộc khủng hoảng đơn lẻ nào, mà bởi toàn bộ hệ thống được thiết kế cho một giai đoạn phát triển mà nó đã đi qua. Đó là giải pháp của thế kỷ 19 áp dụng cho vấn đề của thế kỷ 20. Nó có thể xây dựng nhà máy thép nhưng không thể sản xuất vi mạch; có thể phóng tên lửa nhưng không thể thiết kế máy tính cá nhân; có thể huy động hàng trăm triệu công nhân nhưng không công nhân tận tâm lao động, làm cho các ông giám đốc có sáng kiến làm ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Một nghịch lý sâu sắc đã hiện hữu. Liên Xô đã chứng minh một cách thuyết phục rằng nền kinh tế do nhà nước chỉ đạo có thể đạt được những thành tựu công nghiệp hóa phi thường. Nó có thể xây dựng các thành phố từ con số không, chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, phóng vệ tinh và khiến các siêu cường khác phải khiếp sợ.
Tuy nhiên, nó cũng chứng minh một cách thuyết phục không kém rằng nền kinh tế do nhà nước chỉ đạo không thể duy trì bền vững trong dài hạn. Nó không thể thích nghi, không thể đổi mới và không thể mang lại cho người dân cuộc sống mà họ mong muốn.
Cuối cùng, khoảng cách giữa những gì hệ thống hứa hẹn và thực tế mang lại trở nên quá lớn, khiến toàn bộ cấu trúc sụp đổ dưới sức nặng của chính những mâu thuẫn nội tại. Có một bài học rộng lớn hơn ở đây, vượt xa khỏi phạm vi của Liên Xô. Câu chuyện về nền kinh tế Liên Xô là lời cảnh báo về những hiểm họa của bất kỳ hệ thống nào ưu tiên sự kiểm soát hơn khả năng thích ứng, coi trọng ý thức hệ hơn thực tế khách quan, trọng dụng lòng trung thành hơn năng lực chuyên môn, và kìm hãm sự lưu thông tự do của thông tin chỉ vì sự thật có thể gây bất lợi.
Đó không phải là những sai lầm chỉ riêng của chế độ cộng sản. Đó là những sai lầm mang tính con người, có thể xuất hiện trong bất kỳ hệ thống nào, ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào. Những người xây dựng nền kinh tế Liên Xô từng tin rằng họ đang kiến tạo một nền văn minh mới, một nền văn minh có thể vượt qua sự hỗn loạn và bất bình đẳng của chủ nghĩa tư bản. Xét trên một khía cạnh kỹ thuật hẹp nào đó, họ đã thành công trong một thời gian. Tuy nhiên, họ lại xây dựng nó trên nền tảng của sự cưỡng ép, lừa dối và việc trấn áp có hệ thống đối với mọi yếu tố giúp nền kinh tế thực sự vận hành hiệu quả về lâu dài: tinh thần chủ động của cá nhân, thông tin trung thực, sự trao đổi tự nguyện và quyền được phép thất bại. Rốt cuộc, Liên Xô sụp đổ không phải vì bị tấn công từ bên ngoài, mà bởi vì chính hệ thống đó không thể duy trì bền vững.
Các nhà máy là có thật. Thép là có thật. Vũ khí hạt nhân là có thật. Nhưng nền kinh tế lẽ ra phải đủ sức chống đỡ cho tất cả những điều đó, xét trên một khía cạnh rất thực tế, lại chỉ là một ảo ảnh. Một ảo ảnh tráng lệ, đáng sợ và bi thảm đã kéo dài suốt 74 năm, cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người trước khi thực tế cuối cùng cũng ập đến. Và khi nhìn vào thế giới ngày nay, với những nền kinh tế đang chật vật vì bất bình đẳng, sự phụ thuộc vào tài nguyên, sự tập trung quyền lực và các hệ thống ưu tiên hiệu quả ngắn hạn hơn là sự bền vững dài hạn, bóng ma của Liên Xô như đang thì thầm một lời cảnh báo mà chúng ta sẽ rất khôn ngoan nếu không phớt lờ.
Dồn sức vào việc làm nhà máy luyện thép, làm đường xe lửa thì ở trên ra lệnh rồi đốc thúc thì ở dưới phải nghe lời, ra sức làm. Đó là vì các công trình này ít biến chuyển trong khi hoạt động.
Nhưng với nhiều ngành kinh tế khác thì cơ sở kinh doanh theo qui luật thị trường thay đổi luôn luôn mỗi ngày. Chỉ có tư nhân tự kinh doanh mới ứng phó kịp sự thay đổi của trị trường. Còn đường lối kinh tế chỉ huy thì ủy ban kế hoạch vạch ra cho công ty từ đầu năm phải dùng bao nhiêu vốn, bao nhiêu đó công nhân, sản xuất bao nhiêu đó sản phẩm thì giám đốc công ty phải theo. Trong năm đó nếu nhu cầu về sản phẩm đó gia tăng thì giám đốc cũng không được quyền gia tăng sản xuất. Nếu thấy sản phẩm đó bị ế, không ai muốn mua thì giám đốc cũng không có quyền giảm sản xuất hay xoay hướng qua sản xuất món hàng khác ăn khách hơn.
Nói tóm lại là những người xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô là những người nặng về lối suy nghĩ của chế độ vua chúa, nông nghiệp. Họ không biết là nền kinh tế thị trường rất phức tạp và biển đổi luôn luôn. Họ nghĩ rằng củng cố uy quyền cho nhà nước thật mạnh thì nhà nước ra lệnh xuống dưới thì ở dưới bắt buộc phải làm.
Trong khi đó, công nghiệp hóa ở các nước Tây Phương là do các doanh nhân làm. Các doanh nhân này cầm đèn chạy trước ô tô. Họ nhảy ra kinh doanh kiếm tiền rồi cử đại diện vào quốc hội để làm ra luật lệ sao cho việc kinh doanh của họ dễ dàng. Họ biết là kinh tế thị trường biến chuyển nhanh nên muốn chính quyền ra ít qui định, luật lệ dễ dàng để họ dễ dàng xoay trở khi sự biến chuyển của thị trường đòi hỏi.
Các ông thủ tướng, tổng thống các nước tư bản, dân chủ phải tiếp các hội đoàn đại diện cho nông nghiệp, công nghiệp, như hội nông dân, hội những nhà sản xuất xe hơi, hội những nhà sản xuất thép... thường xuyên để biết người dân và doanh nghiệp đang gặp khó khăn gì mà điều chỉnh chính sách. Còn ở Liên Xô, người dân không có quyền đề nghị đảng và chính quyền thay đổi chính sách, đường lối. Những sự bất hợp lý, yếu kém cứ chồng chất lên theo năm tháng mà không ai chịu giải quyết. Đến một lúc nào đó khi sự trì trệ trầm trọng muốn tháo gỡ thì không biết bắt đầu từ đâu vì hệ thống bị chồng tréo, các vấn đề đan vào nhau không thể tháo gỡ một vấn đề mà không bị bứt dây động rừng.
Minh Đức

No comments:
Post a Comment